|
"Thưa các đồng chí Trung ương,
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Sau 9 ngày làm việc
khẩn trương, nghiêm túc, trong không khí dân chủ, đổi mới, Hội nghị lần thứ năm
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã hoàn thành nội dung chương trình đề
ra. Các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể
hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy trí tuệ, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết,
sâu sắc vào các đề án, báo cáo, tờ trình. Đã có hơn 750 lượt ý kiến phát biểu ở
tổ và Hội trường; nhiều đồng chí gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào
các dự thảo nghị quyết, kết luận. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình
những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất
cao thông qua nội dung các nghị quyết, kết luận của Hội nghị. Để kết thúc Hội
nghị, thay mặt Bộ Chính trị, tôi xin phát biểu mấy ý kiến, làm rõ thêm một số
vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà Hội nghị đã đạt được.
1- Về tổng kết, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992
Đây là một nội dung rất lớn, đặc biệt quan trọng của Hội nghị lần này. Trung
ương đã thảo luận, tranh luận rất sôi nổi, thẳng thắn, đầy tinh thần trách
nhiệm và thống nhất nhận định: Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu
đổi mới, là đạo luật cơ bản của Nhà nước, văn kiện chính trị - pháp lý quan
trọng, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, chế độ ta trong thời
kỳ mới. Hiến pháp năm 1992 đã quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cơ cấu, nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước; thể chế hóa mối quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Hiến pháp đã tạo cơ sở hiến
định cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Trung ương nhấn mạnh, cần phải thấy hết những giá trị to lớn và ý nghĩa lịch sử
của Hiến pháp năm 1992. Ra đời trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta vừa
mới bắt đầu, tình hình thế giới có những biến đổi to lớn và rất phức tạp. Chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới tạm
thời lâm vào thoái trào, tạo nên cơn chấn động chính trị lớn nhất trong phong
trào cách mạng thế giới; và là thách thức vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt
Nam. Ở trong nước, chúng ta đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội,
lại bị bao vây, cấm vận. Nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí cách
mạng kiên định và tầm nhìn chiến lược sáng suốt, Đảng ta tại Đại hội VII (tháng
6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Và chỉ chưa đầy một năm sau, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp
1992 trên cơ sở sửa đổi căn bản, toàn diện Hiến pháp năm 1980, kịp thời thể chế
hóa đường lối đổi mới của Đảng mà tập trung ở Cương lĩnh năm 1991.
Năm 2001, trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta, tại Đại
hội IX (tháng 4-2001), tiếp tục có những bổ sung, phát triển quan trọng về
đường lối đổi mới cả về kinh tế và chính trị, đối nội và đối ngoại. Và sau đó
Hiến pháp năm 1992 được bổ sung, sửa đổi để kịp thời thể chế hóa chủ trương của
Đảng. Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) là thành
quả rất to lớn của cách mạng, là bước phát triển nhận thức, đổi mới tư duy của
Đảng ta, Nhà nước ta, đóng góp hết sức quan trọng, tạo nên những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới ở nước ta.
Đến nay, Hiến pháp năm 1992 đã đi qua chặng đường 20 năm. Đại hội XI của Đảng
đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011); có nhiều vấn đề mới được đặt ra, có những
quy định của Hiến pháp năm 1992 đã bị thực tiễn vượt qua, không còn phù hợp. Vì
vậy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu khách quan, cần thiết.
Tuy nhiên, sửa đổi, bổ sung những gì và như thế nào, đòi hỏi phải có quan điểm
và phương pháp tư tưởng đúng đắn, khoa học, biện chứng, xuất phát từ yêu cầu
phát triển và thực tiễn của đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (tháng
7-2011) đã chỉ rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo việc tổng kết
sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Tại Hội nghị lần này, Trung ương đã xem
xét, thảo luận Báo cáo của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, cơ bản
tán thành nhiều nội dung của Báo cáo và Tờ trình. Đồng thời tiếp tục nhấn mạnh,
sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có
quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa
học, thận trọng; tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn. Các đề xuất sửa đổi,
bổ sung phải dựa trên kết quả tổng kết sâu sắc thực tế thi hành Hiến pháp năm
1992 và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể chế hóa Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tiếp tục kế thừa những quy
định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp.
Về chế độ chính trị, phải khẳng định chế độ dân chủ ở nước ta là dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu
vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tiễn
cuộc sống. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương. Nhà nước tôn trọng và bảo
đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự
do của mỗi người. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống
nhất của Trung ương. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra và
có quyền lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quyền hành pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là
đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc - là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Các tổ chức của Đảng và đảng viên luôn gắn
bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn
khổ của Hiến pháp và pháp luật.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng
trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các
thành viên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và
các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn
giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận là một bộ phận của hệ
thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Về chế độ kinh tế, khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế,
bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không
ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Đất đai, rừng
núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển,
thềm lục địa và vùng trời... thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý...
Về quy trình sửa đổi Hiến pháp, cần thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa XI) và Điều 147 của Hiến pháp hiện hành, tiến hành một cách chặt
chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các
chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi
của nhân dân về các nội dung sửa đổi, để Quốc hội có đầy đủ cơ sở xem xét,
quyết định.
Cùng với việc cho ý kiến về định hướng những nội dung cơ bản cần bổ sung, sửa
đổi Hiến pháp năm 1992, các đồng chí Trung ương cũng đã góp nhiều ý kiến quan
trọng vào các phương án cụ thể, làm rõ hơn những mặt được, mặt chưa được của
mỗi phương án để Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp tiếp tục cân nhắc, lựa chọn.
2- Về chính sách, pháp luật đất đai
Nhận thức đất đai,
quản lý và sử dụng đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế rộng lớn, phức tạp mà
còn là vấn đề chính trị xã hội rất hệ trọng, nhạy cảm, liên quan đến việc giữ
vững thành quả của cách mạng, của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp,
Trung ương đã dành nhiều thời gian thảo luận kỹ lưỡng và sâu sắc về vấn đề này.
Trung ương khẳng định, sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa
IX), chúng ta đã thu được nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát
huy hiệu quả tài nguyên đất đai, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Cụ thể là, thông qua việc thực hiện Nghị quyết, hiệu lực và hiệu
quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được nâng cao, bảo đảm quỹ đất phục
vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững
ổn định xã hội, an ninh lương thực, cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường.
Chính sách, pháp luật đất đai từng bước được hoàn thiện; các quyền của người sử
dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm. Thị trường bất động sản, trong
đó có quyền sử dụng đất, đã tạo lập được cơ chế hoạt động, phát triển tương đối
nhanh, đồng bộ.
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều bất cập. Quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch chuyên ngành chưa đồng bộ, chất lượng thấp; việc thực
hiện quy hoạch, thu hồi đất và tuân thủ pháp luật ở một số nơi chưa nghiêm; thủ
tục hành chính còn rườm rà, thiếu công khai, minh bạch. Công tác đền bù, giải
phóng mặt bằng, xác định giá đất, hỗ trợ tái định cư mỗi khi phải thu hồi đất
rất khó khăn. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai chưa
đáp ứng yêu cầu, dẫn đến nhiều vụ việc phải qua nhiều cấp kéo dài, rất phức
tạp. Việc sử dụng đất ở nhiều nơi còn lãng phí, thất thoát lớn. Thị trường bất
động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển không ổn định, thiếu lành
mạnh, giao dịch "ngầm" khá phổ biến. Tình trạng đầu cơ đất đai, phát
triển quá nóng thị trường bất động sản xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở một số
thành phố lớn, tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô. Lợi ích của Nhà nước và
người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; chưa đáp ứng được nhu
cầu nhà ở, đất ở của các đối tượng chính sách xã hội, cán bộ, công chức, người
có thu nhập thấp. Chính sách đất đai đối với một số vùng đồng bào dân tộc thiểu
số còn những vướng mắc chậm được giải quyết. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ
cán bộ về quản lý đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu thực thi nhiệm vụ. Một bộ
phận cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm trong quản lý
đất đai còn chưa nghiêm.
Hội nghị nhất trí cho rằng: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn sống của nhân dân; là tài sản, là nguồn lực
to lớn của đất nước. Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; đồng thời quy định rõ ràng,
cụ thể hơn các quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền thống nhất quản lý của
Nhà nước, đặc biệt là trong việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định
giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không
phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất để sử
dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật;
tái định cư, tổ chức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực có
đất bị thu hồi.
Có thể nói, một điểm mới của lần này là, chúng ta đã nhận thức rõ ràng hơn và
quy định rành mạch hơn sự khác nhau giữa quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất;
quyền và trách nhiệm của Nhà nước với quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đối
với từng loại đất. Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc
biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Người sử dụng đất được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn; được có một số
quyền (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp...)
theo quy định của pháp luật và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, có sự
phân biệt các loại đất và nguồn gốc đất; đồng thời phải có nghĩa vụ chấp hành
pháp luật về đất đai, phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục
đích, tuân thủ quy hoạch và chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Nhà
nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử
dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều
chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.
Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai và hoàn thiện pháp luật về
đất đai để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại hiện nay, đáp ứng
tốt hơn yêu cầu phân bổ hợp lý, sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có
hiệu quả, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái.
Nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương
thực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Phát
triển lành mạnh thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, bảo đảm
hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.
Tiếp tục thực hiện giao đất, cho
thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân có thời hạn nhưng có thể kéo dài
hơn để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng và yên tâm đầu tư sản
xuất. Đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù
hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình tích tụ, tập trung đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất
hàng hóa lớn trong nông nghiệp.
3- Về công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí
Hội nghị nhất trí cho rằng, từ khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) được ban
hành, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị
đã chủ động, tích cực vào cuộc. Đã tập trung nhiều công sức xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các cơ chế, chính sách
có liên quan; ban hành và triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng,
chống tham nhũng đến năm 2020; phê chuẩn tham gia Công ước của Liên hợp quốc về
chống tham nhũng; phê duyệt và chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình hành
động thi hành Công ước… Nhờ vậy, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã
có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động, nhất là trong phòng
ngừa, công khai, minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách thủ tục
hành chính, quản lý tài sản công; trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí đã
từng bước được kiềm chế.
Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu "ngăn
chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng". Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn
còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức
xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự
quản lý của Nhà nước. Tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở
nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong các lĩnh vực
và hoạt động liên quan đến đất đai, khoáng sản; đầu tư công; xây dựng cơ bản;
quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; thu chi
ngân sách, mua sắm tài sản công; công tác cán bộ; quan hệ giữa cơ quan, cán bộ
nhà nước với người dân, doanh nghiệp...
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có
những nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân cơ bản là: Một số
cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu
trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những bất cập về thể chế,
nhất là trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý
kinh tế - xã hội; trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, thiếu công khai,
minh bạch và nhất quán; vẫn còn tình trạng "xin - cho". Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, không làm tròn trách
nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm.
Trung ương nhấn mạnh, phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị
quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các
quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Trung
ương 3 (khóa X), gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Chú
trọng cả phòng và chống, cả phòng, chống tham nhũng và phòng, chống lãng phí.
Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sớm khắc phục các nguyên nhân vừa
nêu trên. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và
người đứng đầu; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý
kinh tế, xã hội; tăng cường công tác tổ chức và cán bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu
quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai,
minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận
Tổ quốc, nhân dân và công luận.
Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung
ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính
Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường
trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Quyết định này một
lần nữa thể hiện quyết tâm cao của Trung ương trong việc đẩy mạnh cuộc đấu
tranh phòng, chống tham nhũng với mong muốn đạt kết quả cao hơn, tốt hơn. Tuy
nhiên, đây chỉ là một trong nhiều biện pháp giúp Trung ương, Bộ Chính trị chỉ
đạo, điều hòa, phối hợp công tác của các cơ quan chức năng; theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc, giám sát việc thực hiện. Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng không làm
thay các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước; không phải cứ lập Ban chỉ đạo
là xoay chuyển ngay được tình hình như "một chiếc đũa thần". Bởi vì,
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn,
phức tạp, gian khổ, lâu dài, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn
dân, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Trong đó, vai trò của các đồng chí Trung ương,
các đồng chí lãnh đạo, quản lý của các ngành, các cấp là cực kỳ quan trọng. Mỗi
đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng hãy là một chiến sĩ tiên phong, đi đầu trong
cuộc đấu tranh này. Phải gương mẫu, giữ mình cho trong sạch, không vướng vào
tham nhũng, lãng phí; đồng thời phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt trong đơn
vị công tác của mình.
4- Một số vấn đề về chính sách xã hội và tiền lương từ nay đến năm 2020
Về chính sách xã hội, Trung ương nhất trí cho rằng, trong suốt quá trình đổi
mới, ngay khi nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta đã sớm thực
hiện chủ trương phát triển đồng bộ kinh tế và xã hội, chú trọng kết hợp tăng
trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; luôn quan tâm xây
dựng và tổ chức thực hiện tốt các chính sách xã hội; coi đây vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể
hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Nhiều chính sách xã hội đã được ban hành
và triển khai thực hiện. Nhà nước tăng cường đầu tư từ ngân sách, đồng thời đẩy
mạnh huy động các nguồn lực trong nhân dân để giải quyết các vấn đề xã hội
và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Rõ nhất là về thực hiện chính sách ưu
đãi đối với người có công; xóa đói, giảm nghèo; giáo dục, đào tạo và dạy nghề,
tạo việc làm, thu nhập; chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội;
bảo vệ và chăm sóc trẻ em; thực hiện bình đẳng giới; trợ giúp xã hội, hỗ trợ
người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; phòng, chống tệ nạn xã hội. Nước ta được
Liên hợp quốc công nhận là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện
mục tiêu Thiên niên kỷ.
Tuy nhiên, kết quả đạt được có mặt còn thấp. Tạo việc làm và giảm nghèo thiếu
vững chắc, tỉ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao. Việc bảo đảm giáo dục tối
thiểu ở nhiều huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số kết quả còn hạn
chế; y tế tuyến cơ sở nhiều nơi còn yếu; nguy cơ bùng phát dịch bệnh lớn; vệ
sinh an toàn thực phẩm chưa bảo đảm. Mức trợ cấp ưu đãi người có công còn
thấp. Tỉ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chưa nhiều. Đời sống
của một bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn
rất khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu các yêu cầu dịch vụ xã hội cơ
bản, nhất là về nhà ở, nước sạch và thông tin. Chênh lệch về các chỉ số an sinh
xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc với mức trung bình của cả nước còn
lớn; khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, miền chậm
được thu hẹp, thậm chí có nơi tiếp tục doãng ra…
Những hạn chế, yếu kém nêu trên là
do nước ta vẫn còn nghèo; hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, thiên tai xảy
ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chồng
chéo. Chính sách, pháp luật về xã hội còn ít được quan tâm và chậm được đổi
mới so với chính sách kinh tế. Còn thiếu các giải pháp hữu hiệu để thu hẹp
khoảng cách về mức sống và an sinh xã hội giữa các vùng, miền. Nguồn lực cho
thực hiện các chính sách xã hội còn hạn hẹp, vẫn dựa chủ yếu vào ngân sách
nhà nước, chưa thu hút được nhiều sự tham gia của xã hội; hiệu quả sử dụng
nguồn lực của Nhà nước và xã hội chưa cao, còn manh mún, dàn trải. Sự phối hợp
giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ; công tác thanh tra, kiểm tra
nhiều nơi chưa được coi trọng.
Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu,
trong thời gian tới, phải nghiêm túc quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
của Đảng, coi việc không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người có công và bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên,
quan trọng của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và là trách nhiệm
của toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2015, cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các
gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng mức sống trung bình của dân
cư trên địa bàn; đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội bao phủ toàn dân,
bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.
Muốn thế, phải tập trung hoàn thiện
và tổ chức thực hiện tốt luật pháp, chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp về xã
hội với trọng tâm là tạo việc làm, thu nhập; bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội;
bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là cho người
nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn. Nhà nước bảo
đảm thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đồng thời giữ vai trò chủ
đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội
hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Đồng thời
tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh. Tăng cường hợp
tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện
các chính sách an sinh xã hội.
Về vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã
hội, Hội nghị nhất trí nhận định : Qua gần 10 năm thực hiện cải cách chính sách
tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công theo Kết luận của
Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) và Hội nghị Trung ương 6 (khóa X), tuy có đạt
được một số kết quả bước đầu nhưng nhìn chung chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu
đề ra. Mức lương tối thiểu hiện nay vẫn chưa bảo đảm nhu cầu tối thiểu. Quan hệ
tiền lương hiện hành vẫn mang tính bình quân và thấp hơn nhiều so với quan hệ
tiền lương trên thị trường. Hệ thống thang, bậc lương đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang còn quá phức tạp và lạc hậu. Việc nâng
bậc, nâng ngạch chưa theo yêu cầu của vị trí việc làm, chưa khuyến khích được
cán bộ, công chức, viên chức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Việc không ngừng
mở rộng đối tượng và số lượng các loại phụ cấp đã phá vỡ tương quan chung. Cơ
chế quản lý tiền lương và thu nhập hiện còn nhiều bất cập. Số người tham gia
bảo hiểm xã hội tuy có tăng nhưng còn thấp xa so với số người trong độ tuổi lao
động. Mức trợ cấp ưu đãi hằng tháng người có công tuy đã được điều chỉnh tăng
cao hơn tiền lương và các địa phương đã huy động thêm các nguồn bổ sung nhưng
vẫn thấp so với mức bình quân tiêu dùng của xã hội. Đời sống của một bộ phận
người có công còn khó khăn.
Những hạn chế, yếu kém trên đây có
nguyên nhân khách quan là do tốc độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng
lên của các đối tượng hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách. Nguyên nhân chủ quan
là do chưa quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo được xác định
trong các nghị quyết của Trung ương, nhất là quan điểm chi tiền lương là chi
cho đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và minh bạch hóa
các quan hệ xã hội. Chưa có bước đột phá trong việc tìm nguồn bảo đảm cho cải
cách tiền lương; chưa thực sự gắn tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản
bộ máy, tái cấu trúc nền tài chính công, tái cấu trúc đơn vị sự nghiệp công và
tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước…
Trung ương yêu cầu, trong năm 2012 - 2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa
đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những
bất hợp lý nổi cộm hiện nay. Ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá
nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp nhà
nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý
và người lao động; tiền lương, thu nhập không gắn với kết quả sản xuất kinh
doanh. Đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công theo tinh
thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X). Nghiêm túc triển khai thực hiện
Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung
ương 3 (khóa XI)… Điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công, lương hưu và trợ cấp
bảo hiểm xã hội cùng với mức tăng và thời điểm điều chỉnh mức tiền lương tối
thiểu của cán bộ, công chức…
Đồng thời, khẩn trương nghiên cứu
xây dựng Đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013 - 2020 cùng với các đề
án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách
tiền lương, thu được kết quả. Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải
cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính
công và các lĩnh vực có liên quan khác; gắn điều chỉnh tiền lương với điều
chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI đã thực hiện một khối lượng lớn công việc và đã thành công
tốt đẹp. Trung ương đã thống nhất cao ban hành nhiều kết luận và quyết định
quan trọng. Tất cả các quyết định này đều liên quan chặt chẽ với nhau, có ý
nghĩa to lớn đối với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.
Trách nhiệm của chúng ta sau Hội
nghị này là phải triển khai thực hiện có kết quả các nghị quyết và kết luận của
Trung ương vừa thông qua, coi đây là khâu mấu chốt quyết định trong việc biến
nghị quyết thành hiện thực. Ở đây đòi hỏi một tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực
lớn, phương pháp làm việc khoa học, chặt chẽ. Bởi vì cùng một lúc chúng ta phải
làm rất nhiều việc, việc nào cũng quan trọng, cấp bách. Nếu không có cái nhìn
tổng thể, bao quát thì dễ chỉ thấy việc này, bỏ sót việc khác. Tình hình chung
của đất nước bên cạnh mặt thuận lợi cơ bản cũng còn có rất nhiều khó khăn,
thách thức. Tình hình kinh tế - xã hội tuy có những mặt chuyển biến tích cực
nhưng vẫn chưa vững chắc, còn nhiều khó khăn; số doanh nghiệp, nhất là doanh
nghiệp vừa và nhỏ phải giải thể, ngừng hoặc thu hẹp hoạt động đang có chiều
hướng tăng, thách thức lớn đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng và tác động
xấu đến việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động. Tôi đề nghị ngay sau
Hội nghị này, mỗi chúng ta, tùy theo vị trí công tác của mình, cần phát huy hơn
nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy và chính quyền lãnh đạo và tổ
chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần
này cùng các nghị quyết khác của Đảng, của Quốc hội và Chính phủ; bảo đảm hoàn
thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012.
Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá XI. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn
thành xuất sắc trọng trách trước Đảng, trước nhân dân, đất nước.
Nguồn: http://dangcongsan.vn
|