ĐA DẠNG VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ QUỐC GIA-SỰ TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT GIỮA VIỆT NAM VÀ AUSTRALIA
PGS, TS. Lê Quý Đức
Vấn đề đa dạng văn hoá là vấn đề rộng lớn có thể xem xét ở bình diện quốc tế, có thể xem xét ở bình diện quốc gia, có thể xem xét ở bình diện địa văn hoá, vùng văn hoá; có thể xem xét ở bình diện văn hoá tôn giáo và cả ở trình độ văn hoá - văn minh. Ở đây tôi chủ yếu xem xét ở góc độ văn hoá tộc người trong bình diện quốc gia, dân tộc qua sự tham chiếu về những tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Australia, như chủ đề hội thảo đặt ra.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (tộc người), theo thống kê và phân loại được Nhà nước Việt Nam công bố là 54 tộc người (không kể các nhánh của các tộc người cụ thể). Phân theo ngôn ngữ gồm 3 ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo và Hán Tạng, trong đó gồm 8 nhóm ngôn ngữ (Việt Mường, Môn - Kkơme, Tày - Thái, Mông - Dao, Mã lai - Đa đảo, Hán, Tạng - Miến và Hỗn hợp). Điều đó đã phản ánh tính đa nguồn gốc, đa văn hoá của các tộc người ở Việt Nam.
Về địa lý, Việt Nam nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo, mang đặc trưng của khu vực Đông Nam Á: vừa đất liền, vừa có biển và hải đảo, Việt Nam như một Đông Nam Á thu nhỏ. Nguồn gốc các tộc người ở Việt Nam cũng nói lên điều đó: có tộc người bản địa, có tộc người mới đến gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam, từ trên đất liền, từ biển và hải đảo.
Cộng đồng dân tộc Việt Nam là cộng đồng mang tính truyền thống không giống cộng đồng nhiều quốc gia khác mang tính khế ước (luật pháp), nghĩa là nhiều tộc người ở Việt Nam đã tồn tại và có quan hệ với nhau từ lâu, trước khi thống nhất lại thành quốc gia dân tộc. Họ đã cố kết với nhau trong việc mở mang đất nước và đấu tranh để bảo vệ lãnh thổ hàng nghìn năm, hàng trăm năm trước. Từ đó, các tộc người có quan hệ mật thiết với nhau về vật chất và tinh thần để tạo nên những nét văn hoá chung bên cạnh những nét văn hoá riêng.
Chính những nét văn hoá chung ấy đã làm nên bản sắc văn hoá quốc gia. Đặc trưng của bản sắc văn hoá quốc gia Việt Nam được văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” ().
- Biểu hiện ở 5 giá trị cơ bản sau:
+ Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc;
+ Ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;
+ Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;
+ Tính cần cù, sáng tạo trong lao động;
+ Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.
Đó là những giá trị khách quan, tồn tại xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện “cốt cách dân tộc”, “đặc tính dân tộc” Việt Nam. Điều đó nói lên rằng, những giá trị cơ bản trên được biểu hiện một cách “độc đáo” và “đặc sắc” trong văn hoá Việt Nam, chứ không phải chỉ văn hoá Việt Nam mới có những giá trị đó. Quan niệm về bản sắc văn hoá Việt Nam như vậy cũng phù hợp với tư tưởng của nhà nghiên cứu Sturat Hall mà TS. Nicholas Carah đã trình bày: “Bản sắc dân tộc không phải là những thứ sinh ra đã có, mà nó được hình thành và chuyển dịch trong phạm vi và mối liên hệ với tính biểu tượng, bao gồm 5 thành tố sau: a/ Tự sự về đất nước; b/ Nhấn mạnh đến nguồn gốc, sự kế thừa, truyền thống và những giá trị bất tử của chúng; c/ Việc sáng tạo nên các truyền thống; d/ Việc sử dụng huyền thoại căn bản làm cơ sở tinh thần; e/ Xác định đặc điểm văn hoá dựa trên quan điểm với nòi giống thuần khiết nhằm tạo nên sự khác biệt với “ngoại nhân”.
Chúng tôi hoàn toàn tán thành quan điểm của Hall khi ông cho rằng: bản sắc văn hoá là cái khẳng định ta là ai? và ta quan hệ với người khác như thế nào? trên bình diện một quốc gia dân tộc, nó còn là cái “nhận đồng” của những người cùng chung một nền văn hoá.
Bản sắc văn hoá quốc gia được hình thành trong quá trình hình thành quốc gia, trở thành một yếu tố quan trọng cho sự thống nhất quốc gia của Việt Nam. Nó không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là động lực cho cộng đồng dân tộc Việt Nam chiến đấu bảo vệ chủ quyền dân tộc, giữ gìn sự thống nhất dân tộc, thống nhất đất nước.
Đó là điều mà không chỉ người Việt Nam tự nhận thức mà nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hoá, nhiều chính khách trên thế giới thừa nhận.
Sự tương đồng giữa văn hoá Australia với văn hoá Việt Nam, đều là nền văn hoá đa dạng, đa sắc tộc mà người Australia gọi là nền văn hoá theo “chủ nguyên đa văn hoá”. Song sự khác biệt là ở chỗ nền văn hoá quốc gia Australia đang trong quá trình hình thành và khẳng định tính thống nhất trong đa dạng từ những đặc thù lịch sử, văn hoá của chính mình. Bởi quốc gia dân tộc Australia mới ra đời hơn 200 năm trong quá trình “thuộc địa hoá dân tộc” của những thực dân Châu Âu và người nhập cư từ các châu lục khác đến Australia chung sống với người bản địa (thổ dân) tại đó, để tạo nên một quốc gia dân tộc trên cơ sở “khế ước” cộng đồng. Bằng chứng về quá trình khẳng định tính đa dạng và thống nhất văn hoá quốc gia dân tộc là việc mới đây (ngày 13/2/2008), Thủ tướng Kevin Rudd đưa ra lời xin lỗi đối với người bản xứ; cuộc biểu tình của người dân Australia trên cầu cảng Sydney (năm 2000) đòi quyền bình đẳng về mọi phương diện cho những người bản xứ; nhà nước thừa nhận văn hoá của các nhóm người nhập cư vào Australia; sự xuất hiện bộ phim “Nước Australia” của Baz Luhrmam “gắn kết các chủ đề về bản sắc dân tộc xung quanh đặc điểm thuộc địa và bản địa”…
Sự tương đồng và khác biệt trong vấn đề văn hoá tộc người và bản sắc văn hoá quốc gia giữa Việt Nam và Australia còn được thể hiện trên các vấn đề sau:
Bản sắc văn hoá Việt Nam được hình thành trên cơ sở sự tương tác giữa văn hoá các tộc người, trong một quá trình lịch sử lâu dài, có bề dày từ thời tiền sử, sơ sử đến nền văn hoá nông nghiệp kéo dài hàng nghìn năm. Trong khi đó, bản sắc văn hoá quốc gia Australia được hình thành từ bản sắc văn hoá của người Châu Âu đưa đến, có sự chênh lệch về trình độ văn minh giữa người bản xứ và người Châu Âu, người nhập cư đến từ các châu lục khác.
Giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá các nhóm người, các tộc người để tạo nên tính thống nhất quốc gia về văn hoá đều là ưu tiên của Việt Nam và Australia hiện nay. Nhưng thống nhất trong đa dạng của văn hoá Việt Nam đã được tạo ra và được khẳng định từ trong truyền thống văn hoá Việt Nam và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đối với Australia, vấn đề này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận và thức nhận trong văn hoá và trong nhận thức của cộng đồng người dân và Chính phủ Australia gần đây.
Chính sách văn hoá quốc gia (trong đó có vấn đề văn hoá tộc người và văn hoá quốc gia dân tộc) của Việt Nam là chính sách được cộng đồng các dân tộc, mà đại diện là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, Uỷ ban dân tộc của Quốc hội và Hội đồng dân tộc của Chính phủ Việt Nam đặt ra. Đối với quốc gia Australia, chính sách văn hoá trên lĩnh vực này đang là chính sách của Chính phủ, nhưng thực chất là chính sách của người Châu Âu, người da trắng đặt ra-trong quan hệ với người bản xứ và người nhập cư.
Giải quyết những vấn đề đa dạng văn hoá để tạo nên tính thống nhất văn hoá quốc gia của Việt Nam và Australia cần phải quan tâm đến những điều kiện lịch sử của quá khứ và hiện tại. Trong khi nước Australia phải hoá giải những mâu thuẫn do quá trình thuộc địa hoá để lại và vấn đề nhập cư hiện nay đang đặt ra, thì Việt Nam lại phải giải quyết vấn đề văn hoá của những nhóm người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài với văn hoá của phần lớn người Việt Nam trong nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam quan niệm kiều bào ở nước ngoài cũng là một bộ phận máu thịt của dân tộc, cần phải khắc phục hậu quả của những cuộc chiến tranh dẫn đến sự ly tán của những người Việt Nam, hơn nữa Việt Nam cũng chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này. Tất nhiên, nói như vậy, không có nghĩa là các vấn đề văn hoá tộc người ở trong nước của Việt Nam đã được giải quyết xuôi thuận và tốt đẹp như mong muốn.
Chúng tôi được biết Chính phủ và nhân dân Australia đã có những cố gắng để giải quyết vấn đề đa dạng văn hoá tộc người và bản sắc văn hoá dân tộc với sự thống nhất quốc gia trong năm gần đây. Qua bản tham luận này, chúng tôi chỉ muốn đặt ra một số vấn đề để chúng ta cùng quan tâm trên cơ sở xem xét những tương đồng và khác biệt giữa hai quốc gia, từ đó trao đổi kinh nghiệm và học tập lẫn nhau.