ĐA DẠNG VĂN HOÁ VÀ BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA AUSTRALIA
TS. Nicholas Carah
Bản sắc
Bản sắc tạo cho chúng ta suy nghĩ về việc chúng ta là ai, chúng ta có quan hệ với những người khác như thế nào và cách thức liên hệ của chúng ta với thế giới mà ta đang sống. Bản sắc thể hiện cách thức mà ở đó chúng ta giống như những người khác cũng như cách thức mà ở đó ta có những điểm khác với người khác. Bản sắc được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau như giới tính, dân tộc, địa phương, tôn giáo, chính trị, dân tộc cũng như các yếu tố về nền tảng xã hội như nghề nghiệp, gia đình và giáo dục.
Bản sắc được tạo ra, sử dụng và được điều chỉnh trong giới hạn của văn hoá. Chúng được tạo ra và được thoả hiệp thông qua các hệ thống thể hiện có tính biểu tượng như các phương tiện truyền thông. Bản sắc là sự tương tác mang tính xây dựng giữa các hệ thống xã hội và biểu tượng (như báo chí, trường học, tôn giáo, chính phủ) với các cá nhân (Woodward 1997). Stuart Hall (1996) cho rằng:
“Bản sắc không bao giờ là một thể thống nhất và vào cuối thời kỳ hiện đại, sự phân khúc và đứt gãy ngày càng tăng lên; không bao giờ đơn nhất mà là đa dạng được hình thành từ những khác biệt, thường là sự giao thoa và tương phản, diễn nghĩa, thực hành và định vị. Chúng đang trong quá trình thay đổi và chuyển dịch”.
Bản sắc dân tộc
Từ khái niệm bản sắc theo nghĩa rộng, bây giờ chúng ta sẽ xem xét khái niệm bản sắc dân tộc. Stuart Hall (1992) cho rằng “bản sắc dân tộc không phải là những thứ sinh ra đã có mà được hình thành và chuyển dịch trong phạm vi và trong mối liên hệ với tính biểu tượng”. Chẳng hạn như tôi biết rằng thể thao là một phần rất có ý nghĩa và có tầm quan trọng đối với cuộc sống của người Australia bởi vì gia đình tôi, trường học và các phương tiện thông tin thường nói đến thể thao theo những cách thức đặc biệt. Mọi người đến Australia thường bị chú ý bởi sự quan tâm của quốc gia đối với thể thao và những người hùng trong thể thao. Luật Bóng đá và Cricke của Australia là thể hiện một phần đời sống Australia. Ở thành phố Melbourne thuộc phía nam của đất nước những người bạn, gia đình, đồng nghiệp và cả những người hoàn toàn xa lạ thường bắt đầu câu chuyện với nhau bằng việc nói về bóng đá. Dân tộc đã “sản sinh” ra những ý nghĩa này và chúng trở thành một “hệ thống biểu tượng văn hoá”. Khi đó công dân tham gia vào việc hình thành quan điểm dân tộc. Bản sắc dân tộc hiện ra từ quá trình hiện đại hoá và công nghiệp hoá để một dân tộc trở thành một nhà nước. Sự phát triển của các thiết chế quốc gia như giáo dục và báo chí đóng vai trò nền tảng trong việc tạo ra bản sắc dân tộc thông qua ngôn ngữ, quan điểm và giá trị.
Bản sắc dân tộc có thể được xem như là sự “diễn nghĩa”. Diễn nghĩa là cách nghĩ và nói về thế giới. Bản sắc dân tộc hình thành trong cuộc sống bởi vì chúng tạo ra ý nghĩa mà người dân nhận thấy trong cuộc sống của mình. Tức là những ý nghĩa mà họ đồng cảm. Theo Benedict Andersen (1983) dân tộc là một “cộng đồng có hình ảnh”. Chúng ta không thể “nhìn thấy” toàn bộ dân tộc và biết được dân tộc có nghĩa là gì mà chúng ta chỉ có thể hình dung dân tộc trong tư duy của chúng ta.
Hall (1992) chỉ ra năm thành tố của bản sắc dân tộc:
- Tự sự về đất nước
- Nhấn mạnh đến nguồn gốc, sự kế thừa, truyền thống và giá trị bất tử của chúng
- Việc sáng tạo nên các truyền thống
- Việc sử dụng huyền thoại căn bản làm cơ sở tinh thần
- Xác định đặc điểm văn hoá dựa trên quan điểm nòi giống thuần khiết nhằm tạo nên sự khác biệt với “ngoại nhân”.
Tự sự của nước Australia thường được thể hiện xung quanh khái niệm chung về “tình đồng nghiệp” nơi mà những người bình thường làm việc với nhau để đạt được những điều chống lại những mối bất hoà lớn. Những câu chuyện này nói về hình ảnh cuộc sống ở những vùng xa xôi và vùng nông thôn, về thể thao và về những con người dũng cảm trong quân đội. Nội dung của những câu chuyện này nói về nguồn gốc và truyền thống bất tử. Chẳng hạn như, chuyện kể về “tình bạn” cho rằng tinh thần của người Australia được thể hiện bởi đặc điểm “cơ hội công bằng” đối với tất cả mọi người mà không quan tâm đến họ là ai và từ đâu đến. Khái niệm “cơ hội công bằng” thường được xem là đặc điểm của lối sống Australia.
Lời xin lỗi của Thủ tướng Kevin Rudd đối với người bản xứ được thể hiện theo logic của khái niệm “cơ hội công bằng” và đối lập với đạo luật về quan hệ lao động của vị Thủ tướng tiền nhiệm John Howard được đưa ra dưới cùng logic “cơ hội công bằng” đối với người lao động. Tự sự dân tộc cũng sáng tạo nên các truyền thống, lễ nghi nhất định qua đó dân tộc thể hiện bản sắc của mình. Chẳng hạn như, trong ngày Anzac hàng năm, người Australia thường tập trung ở Đài Tưởng niệm chiến tranh, tổ chức các sự kiện thể thao và tập trung ở những quán rượu để tôn vinh sự hy sinh của những người chiến sĩ Australia. Những nghi lễ và truyền thống trong ngày Anzac đã nuôi dưỡng cho những thần thoại và nghi thức và đã tạo nên những câu chuyện với ý nghĩa làm “toát lên” bản chất của bản sắc Australia.
Tự sự dân tộc có những huyền thoại căn bản làm cơ sở tinh thần, chẳng hạn như “một câu chuyện xác định nguồn gốc của dân tộc, con người và đặc điểm dân tộc của họ”. Australia là một quốc gia trẻ chỉ mới thành lập hơn 200 năm. Trong nhiều năm qua, huyền thoại căn bản của dân tộc nói về sự khai phá của Thuyền trưởng Cook năm 1788 và quá trình thuộc địa hoá dân tộc, và cũng chính sự kiện này đến nay vẫn được cho là đã dẫn đến việc phá huỷ văn hoá bản địa. Văn hoá bản địa có huyền thoại căn bản về “thời kỳ giấc mơ”. Những câu chuyện về “thời kỳ giấc mơ” mô tả việc hình thành phong cảnh, tâm hồn và con người Australia. Nhiều người Australia biết về một số câu chuyện này nhưng họ thừa nhận rằng đây không phải là huyền thoại căn bản của những người Australia đến đây trong vòng 200 năm qua. Đối với những thế hệ đi trước, sự xâm lược của người Australia ở Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất thường được dẫn chứng là huyền thoại dân tộc. Nhiều người Australia hành hương tới Gallipoli trong ngày Anzac hàng năm. Câu chuyện về Gallipoli nhấn mạnh đến tình bạn và lòng dũng cảm của những người lính đã hiến dâng cuộc đời họ cho dân tộc. Trong khi không tranh luận về tầm quan trọng của những sự kiện này và ý nghĩa của sự hy sinh của những người lính, một số người Australia thường đặt câu hỏi làm sao có thể xem việc một quân đội đánh bại một quốc gia ở bên kia của thế giới là huyền thoại căn bản đối với nước Australia trong thế kỷ 21. Ở phương diện nào đó cho thấy Australia vẫn là một dân tộc đang đi tìm kiếm một huyền thoại căn bản cho dân tộc mình.
Những tự sự dân tộc này thường được biểu hiện bởi dân gian. Ở những quốc gia hậu thuộc địa như Australia, dân gian thường không phải là người có quyền lực. Từ khi trở thành thuộc địa, người bản xứ ở Australia bị loại ra khỏi các câu chuyện thể hiện tính tự sự dân tộc. Chỉ đến gần đây họ mới được tham gia vào dân tộc và những tự sự của họ được thể hiện trên cả bình diện biểu tượng và thực tế. Phần sau chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận bởi vì các quá trình này vẫn chưa được giải quyết toàn diện. Tự sự của Australia được chia sẻ giữa tự sự của người bản xứ sống ở đây trên 40.000 năm và người thống trị mới đến trong 200 năm qua, đó là những người dân phương Tây. Trong mỗi nhóm này tập quán và văn hoá bản địa đa dạng tồn tại. Mỗi nhóm đấu tranh để hoà hợp với nhau nhằm tạo nên bản sắc dân tộc chung. Tự sự dân tộc khi đó là một quá trình khớp nối liên quan đến những vấn đề chúng ta từ đâu đến, chúng ta là ai và chúng ta sẽ là ai. Đó cũng là sự kiểm nghiệm giữa các nhóm và các lợi ích khác nhau.
Australia được hình thành năm 1788 với tư cách là thuộc địa của Anh. Nhận xét về bản sắc Australia, học giả David Malouf (2003) cho rằng:
“Phần lớn những giá trị mà chúng ta đang theo cũng như cách thức mà chúng ta đang xem người Anh trong toàn bộ lịch sử của chúng ta đã và đang được xác định bởi cách thức chúng ta hiểu về đạo luật thành lập nước cũng như cách thức chúng ta đánh giá xã hội và văn hoá của chúng ta ít nhất ở thời điểm bắt đầu, một “sự tái lập chuyển dịch”.
Khái niệm bản sắc Australia như là “sự tái lập chuyển dịch” nhấn mạnh đến phương thức bản sắc dân tộc được định hình và hình thành dựa trên quá trình toàn cầu hoá mang tính lịch sử. Nước Australia, như chúng ta vẫn biết, bắt đầu trở thành một quốc gia dân tộc hiện đại khi bị đế chế Anh biến thành thuộc địa năm 1788. Đạo luật tiếp nhận Australia này cho phép việc truất quyền sở hữu của người dân bản địa và bắt đầu quá trình mọi người từ nhiều nền văn hoá khác nhau trên trái đất này đến đây trong suốt 200 năm qua. Bản sắc Australia ngay lập tức trở nên đồng nhất và đa dạng một cách lạ kỳ. Trước khi trở thành thuộc địa, Australia là một lục địa bao gồm nhiều dân tộc khác nhau. Người Australia chấp nhận việc phá huỷ các nền văn hoá này và cố gắng tìm hiểu vị trí của lịch sử trong bản sắc đương đại của chúng ta. Đồng thời, người Australia cũng lo lắng về khía cạnh cơ bản của bản sắc dân tộc của họ, bản sắc Australia đương đại trong dòng chảy, được tiếp tục xây dựng và tái cấu trúc bởi sự dịch chuyển của con người và các nền văn hoá. Cho rằng bản sắc Australia đang chịu sự đe doạ từ quá trình toàn cầu hoá có nghĩa là đã cho rằng có bản sắc cần thiết ở vị trí đầu tiên. Thực tế cho thấy rằng bản sắc Australia, như chúng ta biết, đã và đang là sản phẩm của quá trình toàn cầu hoá. Đó là quá trình “tái lập chuyển dịch” của nhiều bản sắc từ nhiều nơi khác nhau trên trái đất.
Bản sắc Australia thường được tóm gọn trong cụm từ “quốc gia may mắn”. Cụm từ xuất hiện trong cuốn sách của tác giả Donald Horne viết năm 1964 và lịch sử của Australia đã giúp cho việc minh hoạ về tính phức tạp, sự khó khăn trong việc lưu trữ bản sắc dân tộc. Donald Horne viết rằng “Australia là một quốc gia may mắn, phát triển chủ yếu bởi những người thuộc hạng thấp kém cùng chia sẻ vận may của họ. Đất nước này sống bằng ý tưởng của người khác và mặc dù những người dân bình thường của quốc gia này có thể thích nghi nhưng hầu hết những nhà lãnh đạo đất nước (trên mọi khía cạnh) đều thiếu sự hiểu biết về các sự kiện xảy ra quanh họ đến mức mà họ thường cảm thấy bất ngờ”. Một tác giả người Australia là Peter Hartcher (2007) nói về Horne như sau:
“Đó là một trong những bài viết nặng nề nhất về nước Australia cho đến nay. Bài viết của Horn cho rằng vận mệnh tốt đẹp của nước Australia dựa trên sự giàu có về khoáng sản sẽ có thể tạo ra tính tự mãn dân tộc. Vận may của dân tộc lại là tai hoạ của chính nó… Cụm từ (quốc gia may mắn) đồng nghĩa với việc trong sự nhìn nhận của thế giới, đất nước này càng trải rộng thì càng gặp phải những hiểu biết sai lệch”.
Cụm từ “quốc gia may mắn”có nghĩa mỉa mai, nhưng người úc đã thực sự hiểu sai nó. Chủ nghĩa dân tộc và bản sắc dân tộc có thể là thiển cận. Có lẽ chính vì lý do này mà nhiều học giả và các nhà bình luận vẫn còn đang băn khoăn và thận trọng đối với chủ nghĩa dân tộc.
Trở lại năm 1964, Horne đã khuyến cáo nước Australia rằng vận may của nó sẽ biến mất. Một ngày nào đó, khoáng sản trong lòng đất không còn nữa và nếu không đầu tư vào hoạt động sáng tạo thì chúng ta sẽ tụt lại phía sau bởi sự nổi lên của các sức mạnh mới trên thế giới. Sự khuyến cáo này vẫn ám ảnh bản sắc Australia hiện nay. Trong thập kỷ trước, chúng ta đã sống trong thời đại “bùng nổ” nhờ vào sự giàu có tài nguyên của đất nước. Tài nguyên trong lòng đất của Australia đang nạp nhiên liệu cho sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế như Ấn Độ và Trung Quốc. Vai trò của chúng ta trong sự dịch chuyển hàng hoá và năng lượng toàn cầu vừa nuôi dưỡng bản sắc dân tộc vừa làm đảo lộn nó. Trong khi chúng ta có mối liên kết sâu sắc với các đồng minh truyền thống là Anh và Mỹ, chúng ta cũng cần tỉnh táo xác định bản thân chúng ta cần có những khác biệt rõ ràng. Tương tự như vậy, trong khi chúng ta gắn chặt lợi ích trong quan hệ ngoại giao và thương mại với châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ, chúng ta đã không biết chính xác vị trí của chúng ta trong trật tự toàn cầu đang nổi lên này.
Thông qua mối quan hệ với các dân tộc khác, Australia đang thoả hiệp một bản sắc dân tộc trong một trật tự toàn cầu. Sự phát triển bản sắc dân tộc là việc khớp nối vào một vị trí của thế giới. Trong thế hệ trước, chúng ta đã tạo ra các bước đi về mặt văn hoá chứ không phải về mặt chính trị để xây dựng nền cộng hoà, thoả ước với các quốc gia láng giềng ở châu Á và tái phát triển nền kinh tế của chúng ta. Hartcher (2007) cho rằng thậm chí còn có “sự lo lắng ngự trị ở trung tâm của mối quan hệ của úc với thế giới”, “một quốc gia may mắn cuối cùng đã bắt đầu thực hiện vận may của nó”.
Sự đa dạng văn hoá
Ở Australia, khái niệm của chúng ta về đa dạng văn hoá trong thế hệ trước đã được định hình thông qua trải nghiệm của chúng ta về chủ nghĩa đa văn hoá. Báo cáo mang tên Sự đa dạng sống được thực hiện bởi SBS năm 2002 đã chỉ ra “một xã hội năng động và phát triển nơi mà sự đa dạng hoà quyện như là dòng chảy văn hoá chính của Australia”. Báo cáo nhấn mạnh cách thức những người dân Australia bình thường đánh giá sự đa dạng văn hoá của đời sống Australia đương đại. Họ tin rằng nhập cư là hoạt động tốt đối với quốc gia bởi họ được gặp gỡ với những người đến từ các nền văn hoá khác nhau trrong công việc và trong các hoạt động xã hội, họ có được những trải nghiệm đa văn hoá và cảm nhận rằng Australia là ngôi nhà của mình. Nhưng điều này cũng đặt ra những khó khăn và thách thức cho nước Australia đương đại và tương lai của nó. Một mặt, dân tộc phải đấu tranh cho sự hoà hợp với người dân bản địa, cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, mặt khác quốc gia cũng phải chỉ cho những người mới đến biết cách hoà nhập với “lối sống của chúng ta”. Báo cáo Sự đa dạng sống của SBS nhận thấy rằng trong khi những người nhập cư thoả mãn với cuộc sống ở Australia nhưng họ vẫn không cảm thấy rằng mình thuộc về nước Australia. Mặc dù “sự đa dạng sống của Australia” nhưng bản sắc của nó, như được truyền tải trong các truyền thuyết ngự trị chủ đạo lại mang đặc điểm của người da trắng, thực dân phương tây. Truyền thông là công cụ trong việc xây dựng các truyền thuyết và bản sắc này. Báo cáo Sự đa dạng sống nhận thấy rằng “số lượng lớn người Australia tin rằng truyền thông đã không thể hiện được lối sống của họ” .
Năm 2007, Ien Ang, một người Australia là hậu duệ của người châu Á nhập cư đã có bài viết nghiên cứu cách thức xây dựng bản sắc dân tộc của Australia trong quá trình toàn cầu hoá tư bản tự do mới. Cô dẫn chứng khái niệm của Zygmunt Bauman (2000)về “tính hiện đại dịch chuyển” để miêu tả thế giới đương đại:
“Tính không chắc chắn được tạo ra bởi sự nhấn mạnh hơn bao giờ hết đối với tính linh hoạt, tính thay đổi liên tục và những thay đổi bất ngờ trong cuộc sống đương đại - tính không ổn định trong công việc và đời sống cá nhân ngày càng tăng lên, sự tăng lên của truyền thông và khả năng thay thế tất cả mọi thứ”.
Australia đã chấp nhận chủ nghĩa đa văn hoá từ những năm 1970 như là cách thức “quản lý ảnh hưởng xã hội của sự đa dạng dân tộc” (Ang 2007). Chủ nghĩa đa văn hoá là một nỗ lực quốc gia để chứng minh các cộng đồng dân tộc là một bộ phận quan trọng và hiện hữu trả lời câu hỏi “chúng ta la ai” và về “bức tranh xã hội và chính trị” của chúng ta (Ang 2007). Ví dụ về một trong những chính sách được xây dựng bởi SBS, một kênh truyền hình chuyên về đa dạng văn hoá của các dân tộc. Ang (2007) cho rằng đa dạng văn hoá là một yếu tố gốc rễ của bản sắc Australia và rằng “trong thời đại với sự dịch chuyển liên tục, nơi mà biên giới trở nên mềm hơn và mọi thứ luôn thay đổi thì việc hội nhập - sự đa dạng trong giao tiếp, việc thiết lập các mối liên hệ - không bao giờ được thực hiện”.
Bản sắc dân tộc đa văn hoá thừa nhận các cộng đồng dân tộc địa phương khác nhau vẫn tham gia vào đời sống dân tộc. Trong chủ nghĩa đa văn hoá việc tôn trọng những khác biệt sâu sắc giữa các cộng đồng là điều khó khăn. Những người làm chính sách và các nhóm thống lĩnh xã hội thường dễ dàng khẳng định các khía cạnh hình tượng của chủ nghĩa đa văn hoá, nhưng đó chỉ là sự tránh né những vẫn đề khó mà thôi.
Trường Báo chí và Truyền thông Đại học Queensland