"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ Quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh) English
 
 Chi tiết bài viết

60 NĂM TUYÊN NGÔN THẾ GIỚI VỀ NHÂN QUYỀN –

GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

*******

                  TS. TƯỜNG DUY KIÊN

                     HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

                                                                                                   HỒ CHÍ MINH

(Bài viết nhân kỷ niệm 60 năm ngày Liên hợp quốc thông qua bản

Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người, 10/12/1948 – 10/12/2008)

 

1. Bối cảnh ra đời và giá trị thời đại của Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người

Nếu xét về mặt lịch sử, ý tưởng thành lập một tổ chức quốc tế bảo vệ quyền và các tự do cơ bản của con người, cũng như thiết lập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã có từ lâu. Nhưng chính sự tàn bạo khủng khiếp, vi phạm và chà đạp thô bạo, phổ biến các quyền, tự do, nhân phẩm của con người do chủ nghĩa phát xít trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II (1939 - 1945) gây ra, khiến các quốc gia nhận thức sâu sắc về hậu quả của sự không liên kết trong việc bảo vệ hòa bình, nhân phẩm và các quyền con người; kết quả là đã tạo ra một bước ngoặt dẫn tới sự ra đời của Liên hợp quốc – tổ chức quốc tế lớn nhất hiện nay, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng cam kết bảo vệ, thúc đẩy, phát triển các quyền và tự do cơ bản của con người trên phạm vi toàn cầu.

Lời mở đầu của Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định quyết tâm: “phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong đời chúng ta, gây cho nhân loại đau thương không kể xiết”, cần “thực sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ[1]”. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người là nền tảng duy trì hòa bình và công lý cho nhân loại, cần thiết tìm kiếm những phương thức nhằm tăng cường hợp tác quốc tế với mục tiêu bảo vệ nhân quyền chống lại sự thực thi một cách độc đoán của quyền lực nhà nước và cải thiện điều kiện sống của cá nhân. Việc thiết lập trật tự pháp lý mới dựa trên những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, được xác định tại Điều 1(3) của Hiến chương là: “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo[2]”.

Điều 68 của Hiến chương Liên hợp quốc ủy quyền cho Hội đồng Kinh tế, Xã hội thành lập các ủy ban chuyên môn trong đó có Ủy ban Nhân quyền (nay là Hội đồng Nhân quyền[3]). Ủy ban được thành lập năm 1946 và đã bắt tay ngay vào việc soạn thảo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người. Dự thảo được hoàn tất và chính thức được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 10/12/1948[4], chỉ ba năm sau khi Liên hợp quốc được thành lập. Bản Tuyên ngôn là thỏa thuận pháp lý quốc tế đầu tiên về quyền con người, được các quốc gia cùng nhau xây dựng, dựa trên việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và bất di, bất dịch của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới. Và thừa nhận rằng, chính “sự coi thường và xâm phạm các quyền con người dẫn đến các hành vi man rợ xúc phạm tới lương tâm nhân loại, và việc xuất hiện một thế giới trong đó con người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do thoát khỏi nỗi sợ hãi vì đói nghèo đã được tuyên bố như là khát vọng cao cả nhất của loại người[5]”.

Với 30 điều khoản, Tuyên ngôn thừa nhận tính toàn diện của các quyền, do đó đã liệt kê một loạt các quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cá nhân; quyền của trẻ em, quyền của phụ nữ, và khẳng định quyền con người thuộc về tất cả mọi người; công nhận, thực hiện nhân quyền là mục tiêu chung của toàn nhân loại. Sự ra đời của Tuyên ngôn chính thức xác lập chuẩn mực tối thiểu và chung nhất về các nguyên tắc mang giá trị phổ biến của quyền con người. Tuyên ngôn bước đầu giải thích một cách chi tiết và chính xác hơn thuật ngữ nhân quyền được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc. 60 mươi năm qua, các quy định của Tuyên ngôn vẫn còn nguyên giá trị, bởi tầm nhìn của những nhà soạn thảo về tính phổ quát và không thể chia cắt của các loại quyền; bởi sự thống nhất những quan điểm còn có sự khác biệt về nhân quyền và cách thực thi nhân quyền giữa các thành viên của Liên hợp quốc. Chính những yếu tố đó đã tạo cho sức sống bền vững của Tuyên ngôn. Từ đó đến nay, các quy định của Tuyên ngôn vẫn thư­ờng được dùng để đánh giá hành động của các chính phủ, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, vi phạm, chà đạp quyền con người; Tuyên ngôn còn được viện dẫn trên nhiều diễn đàn quốc tế, coi đó là nguồn chính thức của văn kiện pháp lý quốc tế. Ở cấp độ quốc gia, nhiều điều khoản của Tuyên ngôn cũng được đưa vào hệ thống pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, cho dù có khác nhau về chế độ chính trị hay trình độ phát triển về kinh tế, xã hội hay sự khác biệt về văn hóa. Và vì vậy, nhiều học giả quốc tế cho rằng Tuyên ngôn là luật tập quán quốc tế.

Tuy vậy, trên thực tế, Tuyên ngôn chỉ bao gồm các nguyên tắc chung và liệt kê các quyền và tự do cơ bản của con người, mang tính “khuyến nghị”, thể hiện cam kết về mặt “chính trị - đạo đức” nhiều hơn là ràng buộc trách nhiệm về mặt “chính trị - pháp lý” đối với các quốc gia. Vì thế, yêu cầu cần cụ thể hóa, phát triển những tư tưởng, nguyên tắc trong Tuyên ngôn bằng những điều ước quốc tế cụ thể, trên từng lĩnh vực và có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên đã bắt đầu trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. 

2. Tuyên ngôn đặt cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về quyền con người

Ngay sau khi Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền được thông qua, Ủy ban Nhân quyền đã bắt tay vào việc soạn thảo một số lượng đáng kể công ước quốc tế về quyền con người mà theo đó, sẽ có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên. Nỗ lực đó đã được thực hiện khi cả hai công ước (Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 16/12/1966. Cả hai công ước này chính thức có hiệu lực từ năm 1976. Trên cơ sở các quyền được quy định trong Tuyên ngôn, hai công ước xác định cụ thể và chi tiết các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; đồng thời xác lập trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người. Hai công ước thiết lập cơ chế giám sát các quốc gia thành viên thực hiện công ước bằng việc thành lập ủy ban giám sát công ước (Ủy ban Nhân quyền được thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được thành lập theo Nghị quyết 1985/17 ngày 28 tháng 5 năm 1985 của Hội đồng Kinh tế, xã hội).

Việc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và hai công ước quốc tế năm 1966 có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo lập hệ thống các nguyên tắc, quy phạm và chuẩn mực quốc tế về quyền con người, và là cơ sở để hình thành các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong từng lĩnh vực cụ thể. Hiện nay, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, hai công ước quốc tế năm 1966 và hai nghị định thư bổ sung công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị được cộng đồng quốc tế thừa nhận là Bộ luật quốc tế về quyền con người.

            Ngoài các văn kiện nêu trên, các công ước và các tuyên bố về quyền con người và có liên quan đến quyền con người được Liên hợp quốc thông qua từ khi thành lập đến nay tập trung vào bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người trên các lĩnh vực sau đây: bảo vệ ngăn ngừa phân biệt đối xử; bảo vệ quyền phụ nữ; quyền trẻ em; xóa bỏ chế độ nô lệ; các thể chế, tập tục tương tự nô lệ; quyền con người trong quản lý tư pháp; tự do thông tin; tự do hiệp hội; tuyển dụng lao động; kết hôn, gia đình và thanh niên; phúc lợi xã hội; tiến bộ và phát triển; quyền hưởng thụ văn hoá, phát triển và hợp tác văn hoá quốc tế; vấn đề quốc tịch, không quốc tịch, cư trú và người tị nạn; tội phạm chiến tranh, tội phạm chống nhân loại, diệt chủng; về cấm tra tấn; bảo vệ quyền của lao động nhập cư và các thành viên gia đình họ; bảo vệ quyền của người khuyết tật; bảo vệ những người bị cưỡng bức mất tích...

            Hệ thống các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua có thể phân thành hai loại: Các văn kiện quốc tế không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, được thể hiện dưới dạng tuyên ngôn, tuyên bố, quy tắc về chuẩn mực tối thiểu, hướng dẫn, hay chương trình hành động...và hệ thống các văn kiện có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên được thể hiện dưới dạng hiến chương, công ước, điều ước, hiệp định, nghị định thư...

Các văn kiện có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, ngoài hai công ước năm 1966 và hai nghị định thư bổ sung, Liên hợp quốc còn thông qua một loạt các công ước quan trọng sau đây[6]: Công ước về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (Nghị định thư bổ sung Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ); Công ước về chống tra tấn, nhục hình, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1984 (Nghị định thư bổ sung Công ước về chống tra tấn, nhục hình và đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người); Công ước về quyền trẻ em năm 1989 và hai nghị định thư bổ sung (Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế quyền trẻ em về việc sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế quyền trẻ em về buôn bán, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 ); Công ước về bảo vệ quyền của tất cả các công nhân nhập cư và các thành viên gia đình họ năm 1990 (Nghị định thư bổ sung Công ước về bảo vệ quyền của tất cả các công nhân nhập cư và các thành viên gia đình họ); Công ước quốc tế về bảo vệ tất cả những người bị cưỡng bức mất tích năm 2006; Công ước về quyền của những người khuyết tật năm 2006 (Nghị định thư bổ sung Công ước về quyền của những người khuyết tật).

            3. Việt Nam cam kết tôn trọng, thúc đẩy, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người theo các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia

Dân tộc Việt Nam với truyền thống nhân đạo, yêu chuộng hoà bình và công lý, lại phải trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, chống giặc ngoại xâm, nên chúng ta hiểu rõ hơn ai hết giá trị đích thực của tự do, công lý, của nền độc lập dân tộc và quyền con người. Chính vì vậy, ngay sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam ra đời năm 1945, một năm sau đó Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nền cộng hoà năm thứ hai được ban hành đã thiết lập và đảm bảo cho công dân thực hiện và hưởng thụ các quyền và tự do dân chủ. Các bản Hiến pháp tiếp theo (HP 1959, HP 1980 và HP 1992) quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam được phát triển và mở rộng không những về nội dung, số lượng mà cơ chế đảm bảo tính hiện thực của các quyền cũng ngày càng được hoàn thiện. Điều đặc biệt là, Nhà nước Việt Nam không chỉ tuyên bố, thừa nhận nhân quyền về mặt pháp lý quốc gia, mà còn cả trên lĩnh vực cam kết và hành động nhân đạo quốc tế, ngay khi còn đang trong giai đoạn chịu sự can thiệp, xâm lược của đế quốc Mỹ, đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, Nhà nước ta đã gia nhập bốn Công ước nhân đạo quốc tế[7].

Sau khi Việt Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, được đánh dấu bằng thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975, Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), kể từ đó, đã tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền con người và tích cực đóng góp vào các hoạt động bảo vệ nhân quyền quốc tế. Mốc thời gian chính, đánh dấu sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền giai đoạn này là vào các năm 1981, 1982 và 1983 - giai đoạn, Việt nam bắt đầu thực hiện Hiến pháp 1980 (Hiến pháp thống nhất trong cả nước), Việt Nam đã gia nhập một loạt các điều ước quốc tế về nhân quyền như: Công ước quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về loại trừ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị Tội ác A-pac-thai; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá; Công ước quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ; Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với Tội phạm chiến tranh và Tội phạm chống lại nhân loại. Và tiếp theo đó, là từ năm 1990 trở lại đây - thời kỳ Việt Nam đang trên tiến trình thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng cộng sản khởi xướng và lãnh đạo, Việt nam đã tham gia ký và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989; trong các năm 1994, 1996, Việt Nam tiếp tục gia nhập một loạt các công ước quốc tế khác về quyền trẻ em hoặc liên quan đến quyền trẻ em do Tổ chức Lao động quốc tế thông qua. Trong năm 2000, Việt Nam đã gia nhập Công ước số 182 (Công ước về nghiên cứu và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất) đưa tổng số công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua được Việt Nam phê chuẩn hay gia nhập lên 15 công ước và tiếp đó, vào tháng 12 năm 2001, Việt nam đã phê chuẩn hai Nghị định thư sổ sung Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Nghị định thư không bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang, và Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em); vào ngày 22 tháng 10 năm 2007 Việt Nam đã ký Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của Người Khuyết tật năm 2006, và hiện nay đang tiếp tục tiến hành nghiên cứu để chuẩn bị tham gia một số điều ước quốc tế quan trọng khác.

Như vậy, không kể tham gia các công ước về nhân quyền hoặc liên quan đến quyền con người do các tổ chức quốc tế khác thông qua, tính đến nay Việt nam đã ký, phê chuẩn hoặc gia nhập 9 công ước và 2 nghị định thư bổ sung công ước trong tổng số gần 20 Công ước và nghị định thư bổ sung công ước về nhân quyền do Liên hợp quốc ban hành. Và với số lượng như vậy, Việt Nam đã tham gia hầu hết các điều ước quốc tế chính về nhân quyền do Liên hợp quốc ban hành, và số lượng này là khá so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam ý thức sâu sắc đó là sự cam kết chính trị - pháp lý của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trước cộng đồng thế giới. Chính vì vậy, sự nghiệp đổi mới ngày nay, đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là đặt con người ở vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế, xã hội, trong đó, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người được xem là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, đảm bảo thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta xác định: "Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người[8]". Tiếp đó, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tháng 4 năm 2001, một lần nữa việc: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt nam đã ký kết hoặc tham gia[9]" được Đảng ta khẳng định ở tầm cao mới nhằm tạo cơ sở lý luận, chính trị vững chắc cho hành động thực tiễn bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người ở nước ta.

Từ chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn cao cả của dân tộc ta, với việc tham gia tích cực các điều ước quốc tế về nhân đạo, nhân quyền là những cam kết chính trị - pháp lý ở tầm quốc tế, Nhà nước ta đã không ngừng thể chế hoá các chuẩn mực quốc tế vào pháp luật trong nước. Điều 50, Hiến pháp 1992, quy định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật [10]", đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyền con người.

Hoạt động lập pháp từ năm 1987 đến nay, đặc biệt sau Hiến pháp năm 1992 được thông qua, là tiếp tục thực hiện chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là vì con người, đề cao các giá trị của quyền con người được coi là nhân tố tạo dựng xã hội dân chủ và tiến bộ; đồng thời Nhà nước thực thi pháp luật cũng như công dân thực hiện có hiệu quả các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật sẽ đảm bảo tốt cho việc hưởng thụ nhân quyền của tất cả mọi người. Trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX của Đảng dù cách thức thể hiện có khác nhau, những đều nhấn mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, và trong hoạt động lập pháp thì “ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân[11] ". Nhà nước đã không ngừng bổ sung và sửa đổi pháp luật hiện hành hoặc ban hành văn bản pháp luật mới nhằm đáp ứng các chuẩn mực nhân quyền quốc tế và những thay đổi to lớn của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Chỉ tính từ năm 1992 đến nay, không kể các văn bản do Chính phủ và cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền ban hành, Quốc hội đã thông qua được 183 văn bản luật, trong đó có khoảng 48 văn bản có liên quan trực tiếp đến bảo vệ quyền và tự do cơ bản của công dân; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 125 pháp lệnh trong đó có khoảng 39 văn bản liên quan đến trực tiếp đến bảo vệ quyền và tự do cơ bản của công dân. Các văn bản luật và dưới luật được xây dựng với tốc độ khẩn trương vừa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quản lý xã hội, quản lý nhà nước bằng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế.

Bên cạnh việc thể chế hoá các quy định nhân quyền quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia, đảm bảo sự hài hoà giữa các quy định của hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, các hoạt động khác nhằm thực thi các quy định nhân quyền quốc tế cũng được thực hiện rất tích cực và đa dạng. Các công ước quốc tế về nhân quyền mà Nhà nước ta đã phê chuẩn hay gia nhập được dịch sang tiếng Việt và công bố trên nhiều sách, báo và phương tiện thông tin, đại chúng. Một số công ước còn được dịch sang cả tiếng dân tộc thiểu số và đưa vào chương trình giáo dục phổ thông như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989; Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979. Nhiều hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế đã được tổ chức đạt kết quả tốt; các khoá tập huấn, giáo dục và đào tạo về nhân quyền cho nhiều đối tượng khác nhau được triển khai, bước đầu đã nâng cao được nhận thức chung của xã hội trong việc bảo vệ, thúc đẩy và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền.

Có thể khẳng định rằng những thành tựu bảo vệ, đấu tranh nhân quyền đã đạt được ở nước ta đến nay là rất to lớn và cơ bản. Và nếu so sánh với các quy định nhân quyền quốc tế, ở mức độ khái quát, có thể khẳng định: hệ thống pháp luật Việt nam về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho việc thúc đẩy, bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân. Chính những nỗ lực phấn đấu và thành quả hiện thực trên lĩnh vực bảo vệ nhân quyền ở nước ta trong suốt thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao với việc Việt Nam được bầu làm thành viên Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ (2001 - 2003) và hiện nay đang là ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.

Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta suốt cả chặng đường từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới ngày nay, đường lối nhất quán là giải phóng con người, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, vì nhân quyền cao cả. Đối với chúng ta, một dân tộc từng chịu thử thách qua lửa đạn chiến tranh và cả trong thời bình khi thực hiện công cuộc đổi mới, tư duy và nhận thức về quyền con người, về giá trị đích thực của nhân quyền ngày càng sáng rõ và luôn ý thức rằng: Nhân quyền là thuộc bản chất của chế độ; là mục tiêu phấn đấu của cách mạng XHCN.  Trên cơ sở tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IX và 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã rút ra nhiều bài học quan trọng, trong đó tiếp tục nhấn mạnh đến việc: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hoá và thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người[12]”.

         Như vậy, cùng với sự phát triển tư duy lý luận về quyền con người, Đảng ta chính thức nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc thể chế hoá và bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền con người, quyền công dân. Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạng công cuộc cải cách và đổi mới hệ thống chính trị, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp được đặt trọng tâm mà khâu đột phá là cải cách toàn diện hệ thống Toà án để bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân được tốt hơn. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định: “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người[13]”. Việc đề cao công lý bảo đảm quyền con người, yêu cầu đặt ra là Toà án phải xét xử độc lập, công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm; bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân sử dụng Toà án như một công cụ hữu hiệu, chỗ dựa tin cậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy đòi hỏi phán quyết của Toà án không chỉ thể hiện quyền lực Nhà nước mà phải nhân danh công lý.

Tuy vậy, nhân quyền là vấn đề nhậy cảm, dễ bị lợi dụng về chính trị, đảm bảo thực hiện nó là cả một quá trình phấn đấu lâu dài, không thể một sớm, một chiều nhất là đối với một đất nước đã chịu biết bao hy sinh mất mát về người và của do thực dân, đế quốc gây nên và hậu quả chiến tranh để lại còn rất nặng nề. Do đó, những thành quả nhân quyền đã đạt được chúng ta cũng không bao giờ tự mãn, bởi trước mắt, đất nước còn đang đối mặt với nhiều thách thức như: tình hình tham nhũng còn phổ biến và nghiêm trọng; tình trạng mất dân chủ, quan liêu, cửa quyền trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước đang trực tiếp và gián tiếp vi phạm quyền dân chủ của công dân; nhận thức của cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước về tôn trọng, bảo vệ, đấu tranh về quyền con người chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn; bảo vệ quyền con người trong quản lý tư pháp còn có nhiều bất cập, nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội; tình trạng phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc; các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng ngày càng gia tăng; sự xuống cấp ngày càng nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái đang tác động xấu đến sức khỏe của người dân, đe dọa đến sự phát triển bền vững của đất nước...Tất cả đang là nguy cơ lớn mà nếu không đẩy lùi, giải quyết kịp thời sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến thành quả nhân quyền, kẻ xấu sẽ lợi dụng để bôi nhọ bản chất của chế độ XHCN ở nước ta.

Trong thời điểm hiện tại, cần ý thức sâu sắc rằng, giải quyết các vấn đề tiêu cực và mặt trái của xã hội phải đảm bảo ổn định về chính trị và thực thi nhân quyền phải gắn liền với bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia - bài học đã được rút ra từ lịch sử đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược. Trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, cần cảnh giác và càng không được mơ hồ với những luận điệu coi: nhân quyền cao hơn chủ quyền; nhân quyền không biên giới quốc gia; quá nhấn mạnh tính phổ biến của nhân quyền mà coi nhẹ các yếu tố có tính đặc thù về lịch sử, văn hóa, dân trí, trình độ phát triển kinh tế, xã hội hay coi tự do, lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia, dân tộc... để đi đến sao chép một cách máy móc mô hình dân chủ, nhân quyền của nước này, áp đặt cho nước khác, hay lợi dụng tính nhạy cảm của nhân quyền nhằm can thiệp công việc nội bộ quốc gia, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định từ bên trong phục vụ cho ý đồ chính trị đen tối thì nhân quyền chẳng những không được đảm bảo mà hành vi đó còn là vi phạm, chà đạp nhân quyền không thể chấp nhận được.

Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, cam kết và thực thi các quy định nhân quyền quốc tế, trước hết và chủ yếu là trách nhiệm thuộc về quốc gia thành viên; đồng thời coi trọng đối thoại và hợp tác quốc tế, coi đó vừa là đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế; vừa là cơ hội để học tập kinh nghiệm trong xây dựng và thực thi pháp luật bảo đảm quyền con người; cơ hội chia sẻ quan điểm, giá trị chung, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trong khu vực và trên thế giới; đồng thời chia sẻ những điểm còn có sự khác biệt trong cách hiểu và thực thi nhân quyền, qua đó làm cho nhân dân và bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về quyền con người; khẳng định những thành tựu về nhân quyền mà chúng ta đã đạt được. Vì vậy, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương: “Chủ động tham gia vào cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam[14]”. Đối thoại và hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền dựa trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ngày càng tốt hơn.

     ----------------------------------------------Hà Nội, 10/2008


[1] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, ST Nhà xuất bản chính trị Quốc gia , Hà Nội – 1998, trang 19

[2] Sđd, tr 20

[3] Hội đồng Nhân quyền thay thế Ủy ban Nhân quyền theo Nghị quyết số 60/251 ngày 15/3/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc

[4] Hiện nay Liên hợp quốc lấy ngày thông qua Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người là Ngày nhân quyền quốc tế hàng năm

[5] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, ST Nhà xuất bản chính trị Quốc gia , Hà Nội – 1998, trang  62

[6] Hiện nay có 9 điều ước quốc tế quan trọng về nhân quyền, mỗi điều ước đều thiết lập một ủy ban gồm các chuyên gia độc lập để giám sát các quốc gia thành viên thực hiện các quy định của công ước. Một số công ước được bổ sung bằng các nghị định thư  liên quan đến những mối quan tâm cụ thể.

[7] Công ước Giơ-ne-vơ về việc bảo hộ thường dân trong chiến tranh; Công ước Giơ-ne-vơ về đối xử với tù binh; Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện tình cảnh của những người bị thương, bị bệnh hoặc bị đắm tầu thuộc các lực lượng vũ trang trên biển; Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện tình cảnh của những người bị thương, bị bệnh hoặc bị đắm tầu thuộc các lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ. Các công ước này được Hội nghị ngoại giao về Thiết lập các Công ước quốc tế Bảo vệ các Nạn nhân Chiến tranh, thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1949, tại Giơ-ne-vơ, Thuỵ Sỹ. Việt Nam gia nhập bốn công ước này ngày 5 tháng 6 năm 1957.  

[8] Đảng cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, ST Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội - 1991.

[9] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, 2001, tr 134

[10] Hiến pháp Việt Nam (Năm 1946, 1959, 1980 và 1992), ST Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, tr 153

[11] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, ST Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr130

[12] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, ST Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, trang 72

[13] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, ST Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, trang 127

[14] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, ST, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội – 2006, tr 113

Số lần xem:  2479

Các tin đã đưa
  • Đề dẫn Hội thảo khoa học "Ý thức chính trị của cán bộ trẻ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh"
  • ThS Ngô Tuấn Nghĩa "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
  • PGS,TS Vũ Đình Hòe "Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam hiện nay"
  • PGS,TS Nguyễn Hoàng Giáp "Về phong trào cộng sản quốc tế trong giai đoạn hiện nay"
  • C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh bàn về giáo dục
  •  Quay lại


      


    HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
    Địa chỉ: 135 Nguyễn Phong Sắc - Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội
    Tel: (84-4) 8361068 - Fax: (84-4) 8361194 - Email: vphv@npa.org.vn
    Giấy phép thông tin số 99/GP-TTĐT của Bộ TTTT cấp ngày 11/09/2008
    Tổng biên tập: PGS.TS Trương Thị Thông - Phó Giám đốc Học viện
    WebSite được thiết kế bởi công ty HiPT dựa trên nền DotNetNuke