"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ Quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh) English
 
 Chi tiết bài viết

 

Các Mác với thời đại ngày nay và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

 

 

 

GS, TS Lê Hữu Nghĩa

Ủy viên Trung ương Đảng,

Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

1. Những cống hiến khoa học chủ yếu của Mác*

Mác là một nhà tư tưởng thiên tài, đồng thời là nhà cách mạng vĩ đại; hai phẩm chất ấy thống nhất làm một trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của ông. Cống hiến và sức sống tư tưởng của Mác cũng chính là cống hiến và sức sống sự nghiệp cách mạng của Mác. Tư tưởng của ông là kim chỉ nam để hiểu về bản chất, quy luật vận động và phát triển của thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Trong di sản tư tưởng đồ sộ của Mác, ngày nay chúng ta cần khẳng định ba cống hiến nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới.

Mác là người đầu tiên đã áp dụng phép biện chứng duy vật do chính ông xây dựng vào việc nghiên cứu lịch sử, nhờ đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị, triệt để. Ăngghen nói: “Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”(1). Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”(2).

Việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử đã loại bỏ được hai phương diện khiếm khuyết căn bản của những lý luận lịch sử trước đây. Đó là, một mặt, những lý luận lịch sử trước đây cùng lắm là xem xét những động cơ tư tưởng trong hoạt động lịch sử của con người, mà không nghiên cứu căn nguyên của những động cơ đó, không phát hiện ra tính quy luật khách quan trong sự phát triển của đời sống xã hội, và cũng không nhận ra được trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt sản xuất vật chất, là nguồn gốc của những quan niệm ấy. “Những lý luận trước kia đã không nói đến chính ngay hành động của quần chúng nhân dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì lần đầu tiên, đã giúp ta nghiên cứu một cách chính xác như khoa học lịch sử tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy”(3).

Mặt khác, sử học, xã hội học trước Mác, nhiều lắm chỉ góp nhặt từng mảnh vụn và chỉ trình bày một mặt nào đó của quá trình lịch sử. Trong khi đó “chủ nghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế xã hội, bằng cách xem xét toàn bộ các xu hướng mâu thuẫn nhau, tác động lẫn nhau, bằng cách quy những xu hướng ấy vào những điều kiện sinh hoạt và sản xuất đã được xác định rõ ràng của các giai cấp trong xã hội, bằng cách gạt bỏ chủ nghĩa chủ quan và thái độ tùy tiện khi lựa chọn những tư tưởng “chỉ đạo” hay khi giải thích những tư tưởng ấy, ...”(4).

Thứ hai, Mác đã phát hiện quy luật đặc thù trong quá trình vận động, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư bản do phương thức đó sản sinh ra.

Trước Mác, khoa kinh tế chính trị cổ điển Anh, thông qua Ađam Xmit (1723-1790) và Đavit Ricácđô (1722-1823), đã mở đầu việc nghiên cứu học thuyết lao động. Mác tiếp tục sự nghiệp của hai nhà kinh tế học đó. Tuy nhiên, ở những chỗ mà các nhà kinh tế học tư sản chỉ nhìn thấy quan hệ giữa vật với vật, thì ở chính những chỗ đó, Mác đã tìm thấy quan hệ giữa người với người.

Theo Mác, sự trao đổi hàng hóa phản ánh mối liên hệ giữa những người sản xuất riêng lẻ với nhau, do thị trường làm trung gian. Tiền tệ phản ánh mối liên hệ ấy khăng khít đến mức gắn toàn bộ sinh hoạt kinh tế của những người sản xuất riêng lẻ thành một chỉnh thể duy nhất. Tư bản phản ánh mối liên hệ ấy tiếp tục phát triển đến mức sức lao động của con người trở thành hàng hóa, để tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Đó chính là nguồn lợi nhuận, nguồn giàu có của giai cấp các nhà tư bản.

Thông qua đó, Mác đã phát hiện ra bí mật của phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Quy luật giá trị thặng dư, như thực tế lịch sử mấy trăm năm qua xác nhận, là quy luật chung của xã hội tư bản từ giai đoạn công trường thủ công, công xưởng cơ khí đến công nghiệp dựa vào tri thức, khi mà “tri thức xã hội phổ biến [Wissen, knowledge] đã chuyển hóa ... thành lực lượng sản xuất trực tiếp(5), như cách nói của Mác. Mác đã chỉ rõ mâu thuẫn kinh tế cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất của xã hội ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn kinh tế cơ bản này được thể hiện thành mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp công nhân và những người lao động làm thuê khác được Mác gọi chung là giai cấp “công nhân tổng thể” với giai cấp các nhà tư bản. Cũng như đối với các xã hội có giai cấp trước đây, trong xã hội tư bản, đấu tranh giai cấp không biến mất, mà chỉ thay đổi hình thức phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Thứ ba, với hai phát hiện khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư và thông qua vai trò tổ chức, giáo dục phong trào công nhân quốc tế, Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học với tính cách là học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa.

Như Ăngghen khẳng định: "Mác là một nhà cách mạng. Bằng cách này hay cách khác, tham gia vào việc lật đổ xã hội tư bản và các thiết chế nhà nước do nó dựng nên, tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đã đem lại cho giai cấp đó một ý thức về địa vị của bản thân mình và yêu cầu của mình, ý thức về những điều kiện để giải phóng mình”(6). Lênin cũng nhấn mạnh rằng, điểm cốt yếu của học thuyết Mác là soi sáng vai trò lịch sử của giai cấp công nhân với tư cách là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa thay thế xã hội tư bản.

Mác cùng với Ăngghen đã làm rõ các điều kiện lịch sử và các tiền đề vật chất, tiền đề tư tưởng - văn hóa của sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân. Các ông cũng chỉ ra những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật, mà các chính đảng của giai cấp công nhân cần thực hiện để hoàn thành sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mác giả định chủ nghĩa xã hội ra đời từ xã hội tư bản đã phát triển cao là hoàn toàn hợp lôgíc, bởi chỉ như vậy, mới phát hiện được quy luật chung của sự phát triển xã hội từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản. Chính từ giả định này, Mác đã dự báo một số đặc điểm cơ bản của xã hội tương lai mà xã hội tư bản đang “thai nghén”, và phân tích những tính quy luật chung của quá trình hình thành và phát triển xã hội mới, cơ bản dựa trên tính tất yếu lịch sử của Tây Âu, đặc biệt là nước Anh. Ngoài ra, Mác cũng đã chú ý đến kiểu phát triển “rút ngắn” lên chủ nghĩa xã hội “qua trường hợp nước Nga”.

Mác không thiết kế mô hình của chủ nghĩa xã hội gồm mọi chi tiết, để bắt hiện thực phải khuôn theo. Lênin khẳng định: “Trong tài liệu của Mác, người ta không thấy mảy may một ý định nào nhằm bịa ra những ảo tưởng, nhằm đặt ra những dự đoán vu vơ về những điều mà người ta không thể nào biết trước được. Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn, vấn đề tiến hóa của một giống sinh vật mới, một khi đã biết được nguồn gốc của nó và định được rõ rệt hướng của những biến đổi của nó”(7).

Mác phân tích hết sức khoa học quá trình phát triển của xã hội mới, và dự báo một cách thiên tài hai giai đoạn của xã hội cộng sản. Bởi lẽ, vừa thoát thai từ xã hội tư bản, xã hội cộng sản không thể bước ngay vào giai đoạn cao, tức giai đoạn xã hội cộng sản “đã phát triển trên cơ sở của chính nó”. Nó phải trải qua giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản, mà “về mọi phương diện nó còn mang những dấu vết của xã hội đã sản sinh ra nó”. Trong những “dấu vết” của xã hội tư bản có những yếu tố tiêu cực cần sớm loại bỏ trong quá trình xây dựng xã hội mới; song, có những “dấu vết” của xã hội tư bản không thể xóa bỏ một cách chủ quan duy ý chí. Thí dụ, “dấu vết” của “pháp quyền tư sản” thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động; hay “dấu vết” của công ty cổ phần với tính cách là tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại, và là hình thức tư bản xã hội khác hẳn tư bản tư nhân.

Xã hội cộng sản với tính cách chỉnh thể thì không có sẵn trong lòng xã hội tư bản, song những tiền đề, mầm mống, yếu tố, thì đã nảy sinh trong lòng xã hội tư bản. Trong bộ Tư bản, Mác chỉ ra rằng, chế độ công xưởng cho chúng ta thấy, mầm mống của nền giáo dục tương lai, một nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với học tập và thể dục cho tất cả các trẻ em trên một hạn tuổi nào đó. Nó không chỉ là một phương pháp để tăng thêm sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp duy nhất để tạo ra những con người phát triển toàn diện. Mác nhấn mạnh rằng, công xưởng hợp tác của công nhân chứng tỏ không cần nhà tư bản, công nhân cũng có thể quản lý được doanh nghiệp; và hợp tác xã công nhân là sự phủ định tích cực chủ nghĩa tư bản.

Với tư cách là người tổ chức và giáo dục phong trào công nhân quốc tế (thông qua Quốc tế I), Mác cho rằng, bản chất, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là không chỉ giải phóng mình, mà đồng thời giải phóng cho tất cả các giai tầng khác khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa. Chính vì thế Mác luôn nhất quán với quan điểm biện chứng giữa giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng nhân loại.

Phương châm của Mác khi xây dựng các quan điểm, học thuyết của mình là “phải lật đổ tất cả những quan hệ trong đó con người là một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bất lực, bị khinh rẻ”(8). Mác quan niệm chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực; trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Đối với Mác, sự nghiệp giải phóng nhân loại thống nhất với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân; và giai cấp công nhân là đội ngũ tiên phong của sự nghiệp giải phóng đó. Chính vì vậy, toàn bộ sự nghiệp khoa học và cách mạng của ông đều dành cho việc giáo dục, tổ chức giai cấp công nhân, để làm cho giai cấp công nhân có ý thức về điều kiện, tiền đề giải phóng mình, đồng thời giải phóng toàn nhân loại khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa. Kế thừa tư tưởng của Mác, sau này Lênin nhấn mạnh rằng, tách khỏi cuộc đấu tranh giai cấp, thì chủ nghĩa xã hội chỉ là một câu nói suông hay một ước mơ ngây thơ mà thôi.

Song đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh giai cấp chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích. Mác đã từng nói rõ rằng ông không phải là người đầu tiên phát hiện vấn đề giai cấp, mà chỉ có công phát hiện quy luật tồn tại, phát triển và tiêu vong của giai cấp và đấu tranh giai cấp. Ông cũng không phải là người đầu tiên phát hiện khái niệm chuyên chính, ông chỉ kế thừa khái niệm đó của nền Cộng hòa Rôma cổ đại, để xây dựng khái niệm chuyên chính vô sản với tính cách là thể chế quá độ lên xã hội cộng sản, khi mà giai cấp công nhân giành được chính quyền. Đối với Mác, chuyên chính vô sản không chỉ là bạo lực, mà chủ yếu là tổ chức và xây dựng xã hội cộng sản. Bạo lực chỉ là bà đỡ cho sự ra đời của một xã hội mới.

Mác không cường điệu, không tuyệt đối hóa một hình thức nào của đấu tranh giai cấp, cũng không sùng bái bạo lực như kẻ thù xuyên tạc. Mác khẳng định: “Một ngày nào đó, công nhân sẽ phải giành lấy chính quyền vào tay mình để thiết lập một tổ chức lao động mới;… Song chúng tôi không bao giờ quyết đoán rằng để đạt tới mục đích đó, đâu đâu cũng phải dùng những biện pháp như nhau”(9).

Những cống hiến trong sự nghiệp khoa học và cách mạng của Mác không chỉ tạo ra nền tảng kinh điển cho sự ra đời các quan điểm và học thuyết mới, mà đã trở thành kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội trên thế giới trong hơn một thế kỷ qua.

2. Sức sống của học thuyết Mác trong thời đại ngày nay và công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Sức sống của học thuyết Mác trong thời đại ngày nay thể hiện ở chỗ: các giá trị bền vững trong các học thuyết cơ bản của ông đã và vẫn sẽ là lý luận và phương pháp luận để nhận thức, cải tạo thế giới; còn những giới hạn lịch sử trong một số luận điểm cụ thể, dự báo nào đó thì đặt ra yêu cầu phải bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện mới.

Trước hết có thể khẳng định sức sống, giá trị bền vững trong các học thuyết cơ bản của Mác, gồm:

Một là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Cho đến nay các luận điểm xuyên tạc học thuyết hình thái kinh tế - xã hội thường tập trung, tô đậm vào cái gọi là "quy luật chung", "con đường chung" mà tất cả các dân tộc dù ở trong điều kiện lịch sử nào cũng nhất thiết phải đi theo. Thực tế lịch sử cho thấy, sự phát triển của nhân loại theo các hình thái kinh tế - xã hội hay theo “lịch sử thế giới”, không diễn ra theo con đường đơn tuyến hay theo một cách thức phiến diện nào đó trong đời sống xã hội của nhân loại, như cách hiểu của những người tin vào “lý luận kinh tế quyết định”, “lý luận phương Tây là trung tâm” hay lý luận “ba làn sóng văn minh”. Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, như Ăngghen khẳng định, những cái gì không đúng theo ý nghĩa hình thái kinh tế lại có thể đúng theo lịch sử toàn thế giới.

Việc các dân tộc, các quốc gia khác nhau ở phương Đông và phương Tây đi theo con đường không giống nhau, là biểu hiện tính phổ biến của lịch sử nhân loại. Nhưng trong quá trình phát triển khác nhau đó vẫn chứa đựng một số tính quy luật chung. Chính các tính quy luật đó ràng buộc các dân tộc, các quốc gia trong khi phát triển một cách đa dạng, thì cũng đã trải qua một số giai đoạn tương đồng nhau, hoặc trải qua phát triển "rút ngắn", để cùng tạo nên những hình thái kinh tế - xã hội đan xen nhau, kế tiếp nhau của lịch sử thế giới.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác rõ ràng đã và sẽ cung cấp cho chúng ta công cụ sắc bén nhất để nhận thức quá trình vận động, phát triển xã hội hết sức phức tạp. Lịch sử nhân loại ngày nay dù bước đi có quanh co, phức tạp thì xu hướng chung vẫn là sự phát triển và thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản do hết tính tất yếu lịch sử của nó bởi hình thái xã hội cao hơn, đó là hình thái xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Hai là học thuyết giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dư là "hòn đá tảng" trong học thuyết kinh tế của Mác, vì thế nhiều học giả tư sản tìm mọi lý lẽ để bác bỏ học thuyết này. Đặc biệt có những người cho rằng quy luật giá trị thặng dư có thể tác động trong thời kỳ kinh tế công nghiệp, nhưng không có tác dụng trong thời đại kinh tế tri thức, bởi lẽ quy luật này giả định phải có nhà tư bản chiếm hữu tư liệu sản xuất để bóc lột lao động làm thuê; rằng trước đây, người lao động bán sức lao động, nhưng ngày nay, họ không thể bán tri thức được(10).

Thực chất thì ngày nay, tri thức với tính cách là một dạng tư liệu sản xuất đặc biệt đã bị nhà tư bản, đặc biệt tư bản độc quyền - lũng đoạn tiền tệ, sử dụng và chiếm hữu không bồi thường với tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư rất cao. Lao động sống ngày nay mang tính xã hội hóa rất cao. Không chỉ lao động sống của công nhân "cổ xanh", mà cả lao động sống của những người làm thuê "quý tộc", như lao động quản lý, lao động công nghệ cao... cũng thuộc phạm trù "công nhân tổng thể" bị bóc lột giá trị thặng dư với tỷ suất ngày một cao.

Rõ ràng quy luật giá trị thặng dư được phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Song cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn với hình thức bóc lột giá trị thặng dư tinh vi hơn nhiều so với trước đây.

Ba là học thuyết về chủ nghĩa xã hội. Cần phải nói ngay rằng, thời Mác sống, ngoài "Công xã Pari" (2-5-1871) thì chưa có thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế quan điểm của Mác về chủ nghĩa xã hội chỉ có tính dự báo về những nguyên tắc chung nhất, cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội. Song những quan điểm đó, như thực tế lịch sử đã xác nhận, luôn có ý nghĩa phương pháp luận đúng đắn và sâu sắc đối với cách mạng thế giới và ở Việt Nam. Đó là: tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản thông qua cách mạng vô sản và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; cách thức phát triển khác nhau của mỗi nước lên chủ nghĩa xã hội; khả năng bỏ qua chế độ tư bản của các nước lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội; xã hội xã hội chủ nghĩa được xem xét như một cơ thể sống, do đó, tất yếu phải thường xuyên đổi mới và phát triển; chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tổng hợp những tinh hoa của mọi thời đại lịch sử; giai cấp công nhân liên minh với các giai tầng xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội; vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Mác là một thiên tài nhưng ông vẫn bị quy định bởi chính những điều kiện lịch sử của thời đại mình nên không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng ta không thể đòi hỏi Mác suy nghĩ thay cho các thế hệ sau về những vấn đề chưa xuất hiện trong thời đại của ông. Song những hạn chế đó tuyệt nhiên không làm giảm giá trị thế giới quan, phương pháp luận, giá trị định hướng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Nhờ đó, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, lãnh đạo toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập tự do và thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy.

Trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có sự nhận thức đúng đắn hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt các vấn đề. Trước hết, từ Đại hội VII, một bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó, Đảng khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Việc nhận thức mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng có tính hiện thực hơn, đó là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Bước đầu đã hình thành những quan niệm mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đã hình thành những quan niệm mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; về Đảng cầm quyền và đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; về dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ cơ sở; về đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; về chính sách xã hội, quản lý xã hội và phát triển văn hóa, phát triển con người. Cách tiếp cận thời đại có nhiều mặt sát hợp và rõ nét hơn; thấy đầy đủ hơn tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của "thời đại lớn"(Lênin) quá độ lên chủ nghĩa xã hội; và đánh giá đúng hơn tiềm năng phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Từ đó đã có những quan niệm mới về an ninh, quốc phòng, đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế(11).

Có thể nói rằng, qua hơn 20 năm đổi mới, trên cơ sở nhận thức lại, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã ngày càng sáng tỏ hơn. Nhờ đó, tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Đảng và của nhân dân ta trong quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng sâu sắc hơn, sát hợp hơn với thực chất tư tưởng của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó có sự vận dụng, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thời đại ngày nay.

Hiện nay, trước sự biến đổi phức tạp của tình hình thế giới với nhiều thời cơ và thách thức, nhiệm vụ của công tác tư tưởng lý luận, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị trung ương 5, khóa X là phải: "Tiếp tục đổi mới tư duy, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận kịp thời làm sáng tỏ hơn những vấn đề bức xúc về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta"(12). Thực hiện tốt nhiệm vụ này chắc chắn sẽ làm sáng tỏ hơn, sâu sắc hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, góp phần vào việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng sắp tới.

Sự nghiệp và những tư tưởng vĩ đại của Mác sẽ tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

 


(1),(6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.19, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.499, 501.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.23, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1980,  tr.53

(3),(4)  Sđd, t.26, tr.68.

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, t.46, phần II, tr.372.

(7) V.I.Lênin: Sđd, t.33, tr.104

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, t.1, tr.581.

(9) Sđd, t.18, tr.218.

(10) Alvin Toffler và Heidi Toffler: Tạo dựng một nền văn minh mới - chính trị của làn sóng thứ ba, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.140.

(11) ĐCSVN, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.133-140.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.10.



* Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học Kỷ niệm 190 năm ngày sinh Các Mác (5-5-1818 – 5-5-2008) do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Khoa học xã hội Việt Nam đồng tổ chức ngày 5-5-2008 tại Hà Nội.

 

 

Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị

Số lần xem:  4148

Các tin đã đưa
  • GS,TS Lê Hữu Nghĩa: Những tư tưởng vĩ đại của Các Mác tiếp tục soi sáng con đường cách mạng Việt Nam
  • Đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay
  • GS Nguyễn Đức Bình: "Sống mãi tư tưởng vĩ đại của Tuyên ngôn Đảng cộng sản"
  • PGS,TS Vũ Đình Hòe: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác giữa Học viện CT - HCQG Hồ Chí Minh và Học viện CT - HCQG Lào
  • GS,TS Lê Hữu Nghĩa: Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người
  •  Quay lại


      


    HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
    Địa chỉ: 135 Nguyễn Phong Sắc - Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội
    Tel: (84-4) 8361068 - Fax: (84-4) 8361194 - Email: vphv@npa.org.vn
    Giấy phép thông tin số 99/GP-TTĐT của Bộ TTTT cấp ngày 11/09/2008
    Tổng biên tập: PGS.TS Trương Thị Thông - Phó Giám đốc Học viện
    WebSite được thiết kế bởi công ty HiPT dựa trên nền DotNetNuke