"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh)

 Chi tiết bài viết
GS,TS Lê Hữu Nghĩa: Năm mươi năm phấn đấu thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập, nghiên cứu lý luận và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

 NĂM MƯƠI NĂM PHẤN ĐẤU THỰC HIỆN LỜI DẠY

 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ HỌC TẬP,

NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ

 

                                                                 GS, TS LÊ HỮU NGHĨA*

  

Khi xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Lênin đặc biệt chú trọng vai trò của lý luận. Người nêu rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng… chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”1. Lý luận tiền phong đó là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin - vũ khí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN và CSCN.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác- Lênin con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc và giai cấp, phát triển đất nước. Người ra sức truyền bá lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam dẫn tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người khởi đầu việc giáo dục lý luận, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ các lớp huấn luyện ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925-1927. Trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927) Nguyễn Ái Quốc khẳng định tầm quan trọng của lý luận và vai trò của đảng cách mạng chân chính.

Từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng phát triển, hoàn thiện cương lĩnh, đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam đồng thời chú trọng giáo dục, nâng cao trình độ lý luận, rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Đó là nhân tố căn bản bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Những năm tháng hoạt động bí mật, Đảng vẫn chăm lo học tập lý luận, nhiều cán bộ, đảng viên tổ chức dạy và học lý luận, đường lối của Đảng ngay trong nhà tù của đế quốc, thực dân. Cuối năm 1940, trước khi về nước, tại biên giới Việt - Trung (Tĩnh Tây - Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở lớp huấn luyện cho hơn 40 cán bộ ở trong nước sang. Sau HNTƯ 8 (5-1941), Trung ương và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chú trọng công tác giáo dục, huấn luyện cả về lý luận, chính trị, quân sự và phương pháp công tác. NQTƯ 8 nêu rõ: “Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành một công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ, một phút. Tất cả các cấp chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này”2. Nhờ vậy, chỉ với gần 5.000 cán bộ, đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, yêu cầu đào tạo cán bộ càng trở nên bức thiết và với chất lượng mới. Các khoá huấn luyện cán bộ được mở: khoá Nguyễn Ái Quốc (1946), khoá Tô Hiệu (1947) và khoá Trần Phú (1948).

Trước yêu cầu của nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, xây dựng Đảng và chính quyền nhân dân, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ ngày càng đòi hỏi cao hơn cả về quy mô, tổ chức và chất lượng. Tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (từ ngày 14 đến 18-1-1949), Tổng Bí thư Trường - Chinh đã trình bày chủ trương mới của Đảng về công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ trong các trường Đảng từ Trung ương đến các khu, tỉnh. Trường Đảng Trung ương mang tên Nguyễn Ái Quốc từ đây trở thành trường huấn luyện cán bộ thường xuyên. Khoá I của Trường Nguyễn Ái Quốc mở tại Việt Bắc từ tháng 2 đến tháng 4-1949 với 40 học viên. Khoá II mở tháng 9-1949 với 175 học viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường tại Việt Bắc và ghi vào Sổ vàng của Trường:

000006.jpg

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, ngoài các lớp huấn luyện lý luận chính trị, chỉnh huấn, Trường Nguyễn Ái Quốc còn mở các lớp bồi dưỡng chính sách cụ thể, công tác trước mắt, lớp giảng viên… Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) Trường đã đào tạo, bồi dưỡng 5.750 cán bộ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể.

Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (1954), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng. Từ Việt Bắc, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc chuyển về Thủ đô Hà Nội. Điều kiện và yêu cầu mới đặt ra nhiệm vụ phải mở rộng quy mô đào tạo, huấn luyện cán bộ của Đảng, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác huấn luyện, đi dần vào cơ bản, chính quy, phục vụ sự nghiệp cách mạng của cả nước.

Ngày 8-3-1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 08-CT/TW Về việc mở trường Đảng ở các cấp để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đảng. Chỉ thị đề ra nhiệm vụ của Trường Nguyễn Ái Quốc ở Trung ương, các trường Đảng ở cấp khu, tỉnh và thành phố. Trường Nguyễn Ái Quốc có “nhiệm vụ chính là giáo dục lý luận Mác-Lênin một cách tương đối có hệ thống cho cán bộ cao cấp và trung cấp của Đảng và đào tạo cán bộ làm công tác huấn luyện chính trị và lý luận của Đảng”. “Nội dung học tập: các vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp chặt chẽ với các vấn đề về thời sự và chính sách của Đảng”3. Về phương châm, phương pháp học tập, Chỉ thị nêu rõ: “Trong việc giáo dục và học tập của trường Đảng, phải quán triệt phương châm lý luận liên hệ với thực tế, đem lý luận liên hệ chặt chẽ với những vấn đề về thời sự, chính sách, công tác, tư tưởng, tác phong. Phải phát huy dân chủ, tự do tư tưởng một cách có lãnh đạo để các học viên có thể mở rộng thảo luận, tiếp thu các vấn đề một cách tự giác. Như vậy, mới có thể làm cho trường Đảng thật sự là nơi bồi dưỡng về trình độ nhận thức và rèn luyện về tư tưởng, tác phong cho đảng viên, để đảng viên có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ Đảng giao cho sau khi ra trường”. Về phương pháp học tập “kết hợp ba mặt: giảng bài, thảo luận và tự học… luôn luôn đề cao tinh thần tự học là chính, các học viên có tự giác và tích cực học tập thì mới có kết quả tốt được”4.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 7-9-1957 Trường Nguyễn Ái Quốc đã khai giảng khoá học lý luận dài hạn đầu tiên mở đầu quá trình giáo dục lý luận một cách cơ bản và chuyên sâu. Khoá học gồm 425 học viên, thời gian học 18 tháng, chương trình gồm 5 môn học chính: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lịch sử Đảng Lao động Việt Nam. Ngoài ra, còn có các báo cáo thực tế và ngoại khoá. Cuối khoá học, học viên tiến hành tổng kết tư tưởng về ba mặt: nhận thức lý luận Mác-Lênin, chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và trau dồi phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự khai giảng khoá học lý luận đầu tiên đó và có bài diễn văn quan trọng. Những ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc đối với công tác học tập, nghiên cứu lý luận, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và trách nhiệm của trường Đảng. Nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Nhiệm vụ giáo dục, nghiên cứu lý luận, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ngày đó đến Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, xây dựng CNXH trên cả nước và thực hiện sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Những năm 1954-1975, Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đã đào tạo 40.075 cán bộ cho các ngành, các mặt trận và địa phương. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1975-1986 đã đào tạo, bồi dưỡng 5.909 cán bộ lãnh đạo, quản lý và 1.009 học viên chuyên tu và nghiên cứu sinh của nhiều chuyên ngành lý luận. Trong những năm 1986-1993, Học viện Nguyễn Ái Quốc ngoài nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ năm 1987 hệ đào tạo nghiên cứu sinh bắt đầu tổ chức bảo vệ luận án phó tiến sĩ theo quy chế nhà nước, từ năm 1991 bắt đầu mở cao học đào tạo thạc sĩ và từ năm 1992 hệ đào tạo cơ bản 2 năm được xác định là hệ đào tạo đại học chính trị theo quy chế đào tạo đại học của Nhà nước. Cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới, từ năm 1993, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngày càng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.

Ngày nay, với chức năng, nhiệm vụ là trung tâm quốc gia về đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và nghiên cứu lý luận của Đảng, Học viện càng cần phải quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt hơn những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nửa thế kỷ trước đây.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ tầm quan trọng của lý luận, nhận thức về lý luận và sự cần thiết phải có trường học lý luận của Đảng đó là trường Đảng. Người nêu rõ: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”5 (từ đây các câu trích dẫn để trong ngoặc kép là từ bài Diễn văn của Người). Trường Đảng là nơi trang bị, bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết, trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên cũng để nhằm thực hiện tốt nhất nhiệm vụ lãnh đạo, thực hiện tốt nhất vai trò lãnh đạo của Đảng.

Để nâng cao trình độ lý luận cần nhận thức rõ lý luận là gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước”. Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ truyền bá, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam mà còn không ngừng tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, về chiến tranh cách mạng, và hiện nay đang đặc biệt coi trọng tổng kết thực tiễn của công cuộc đổi mới, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng phải luôn luôn chú trọng đến lý luận, thấy hết sự bức thiết của việc tổ chức học tập lý luận. “Vì Đảng nhận rằng lý luận vạch cho Đảng con đường đúng đắn tiến lên chủ nghĩa cộng sản”. Người chỉ rõ ưu điểm nổi bật của Đảng ta là “trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, với tinh thần quốc tế vô sản, chiến đấu kiên quyết, nhiệt tình cách mạng dồi dào, có truyền thống đoàn kết nhất trí. Tuy vậy, Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém”. Do có nhiều ưu điểm nên Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng thu nhiều thắng lợi to lớn và căn bản. “Nhưng mặt khác, vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước những nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, ví dụ như chúng ta đã phạm những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, hoặc những khuyết điểm trong việc lãnh đạo kinh tế”. Trước sự chuyển biến của tình hình, Đảng phải có đường lối, phương châm, phương pháp thích hợp. “Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng”.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh năng lực vận dụng lý luận, lý luận phải liên hệ với thực tế. Người cho rằng: “Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên học lý luận “Không phải học để thuộc lòng từng câu từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc”. Chúng ta học chủ nghĩa Mác-Lênin “để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”. Người nhấn mạnh: “Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta”.

Trong bài diễn văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc mục tiêu xây dựng CNXH, đặc điểm của Việt Nam và sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, những quy luật phổ biến vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta.

Cách mạng XHCN như Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là cuộc biến đổi toàn diện, sâu sắc và triệt để nhằm xây dựng một xã hội không có bóc lột, áp bức, bất công, thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu, trở thành nước công nghiệp, nhân dân được sung sướng, hạnh phúc. Để đạt tới mục tiêu đó cần phải nhận thức rõ đặc điểm riêng là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không trải qua chế độ TBCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay. Muốn giải quyết tốt những vấn đề đó, muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡ phạm sai lầm… chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”.

Lời chỉ dẫn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt về phương pháp luận khoa học và cả về chính trị- thực tiễn. Phải thừa nhận rằng, trong nhiều năm chúng ta đã chưa thật sự xuất phát từ đặc điểm, hoàn cảnh của đất nước, đã phạm sai lầm của bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí và nóng vội. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình là sai lầm nghiêm trọng, là phạm phải chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến, quy luật phổ biến thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại. “Vì vậy, song song với việc nhấn mạnh sự quan trọng của học tập lý luận, chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế. Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại”. Ý kiến quan trọng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị và ngày càng được chứng minh trong công cuộc đổi mới hiện nay. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. “Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác-Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”.

Thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta không chỉ coi trọng sự vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, khắc phục bệnh giáo điều và phòng ngừa chủ nghĩa xét lại, mà còn coi trọng bổ sung, phát triển về lý luận, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận, khắc phục sự lạc hậu về lý luận như Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã tự phê bình.

Trong diễn văn quan trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập tới tinh thần, thái độ và phương pháp học tập lý luận sao cho có hiệu quả và đạt được mục đích. Người nêu rõ: “Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản. Các đồng chí đều là những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin; học lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Người yêu cầu muốn cho học tập đạt mục đích nâng cao lý luận, cải tạo tư tưởng, tăng cường đảng tính, cần phải có thái độ học tập cho đúng. Phải khiêm tốn, thật thà. Đào sâu suy nghĩ khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác-Lênin. Người cho rằng, kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Phải tự nguyện, tự giác, xem học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu khi học tập, nghiên cứu lý luận phải độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đối với bất cứ vấn đề gì “đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ chín chắn. Phải bảo vệ chân lý, phải có nguyên tắc tính, không được ba phải, điều hoà”. Lời chỉ dẫn có tính phương pháp này của Hồ Chí Minh chính là sự trải nghiệm từ hoạt động cách mạng của mình và có giá trị phương pháp luận khoa học trong nghiên cứu, học tập lý luận, thể hiện phong cách khoa học Hồ Chí Minh.

Gần 50 năm sau thực hiện lời chỉ giáo của Người, trước yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (số 52-NQ/TW, ngày 30-7-2005). Nghị quyết xác định Học viện “là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu về khoa học chính trị”. Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu “Học viện phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Những quan điểm cơ bản trên đây của Đảng về học tập, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã quán triệt sâu sắc những ý kiến chỉ đạo quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để thực hiện ngày càng tốt hơn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, Học viện cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau đây:

- Đổi mới, hoàn thiện chương trình các hệ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo. Đẩy nhanh tiến trình biên soạn các chương trình, giáo trình đã được phê duyệt với hệ thống chuyên đề vừa bảo đảm những kiến thức cơ bản, chuyên sâu vừa nâng cao năng lực vận dụng vào thực tiễn và năng lực tư duy sáng tạo của người học. Sớm đưa nội dung chương trình mới vào thực hiện thí điểm để tiến tới áp dụng rộng rãi.

- Đổi mới mạnh mẽ phương thức, phương pháp đào tạo và quản lý học viên. Cải tiến phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo hướng giảm giờ thuyết trình trên lớp, tăng thời gian tự nghiên cứu của học viên, tăng cường trao đổi thảo luận. Thực hiện đào tạo toàn diện, chú trọng nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện năng lực tư duy khoa học, khả năng xử lý tình huống, trau dồi đạo đức, lối sống. Gắn bồi dưỡng lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. Áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại và học tập theo phong cách nghiên cứu nhằm phát huy cao độ tính tích cực, độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học.

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chú trọng cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, gắn với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện vừa trực tiếp phục vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa đóng góp vào sự phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản nhằm làm sáng tỏ những giá trị, sức sống và ý nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta và những định hướng nghiên cứu lý luận quan trọng mà Đảng đã xác định.

- Coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ cao về trí tuệ, lý luận, có bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của  Đảng và dân tộc, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng và có năng lực, phương pháp tốt trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ khoa học đầu ngành. Cùng với xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên phải tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng hiện đại hoá. Chú trọng chính sách đãi ngộ thích đáng để tuyển chọn, tôn vinh và phát huy cao nhất đóng góp của cán bộ, giảng viên vào sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện.

Trước đòi hỏi ngày ngày càng cao của công cuộc đổi mới, với chức năng, nhiệm vụ Đảng giao cho, Học viện cần phải thực hiện tốt những nội dung nêu ra trên đây, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên phải cố gắng cao nhất mới có thể đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ lý luận và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Thực hiện Quyết định số 60/QĐ-TW của Bộ Chính trị hợp nhất Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính quốc gia thành Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, quy mô, đối tượng mở rộng và càng đòi hỏi chất lượng cao hơn. Kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh khai mạc lớp học lý luận đầu tiên của Đảng, chúng ta càng nhận thức sâu sắc những chỉ bảo quý báu, sâu sắc của Người, nguyện ra sức đổi mới toàn diện nhiệm vụ học tập, nghiên cứu lý luận, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, mãi mãi xứng đáng là Học viện mang tên Bác Hồ kính yêu.

 

     * Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

1. Lênin Toàn tập, Tiến bộ, M, 1975, T. 6, tr. 30-32

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, CTQG, H, 2000, T. 7, tr. 133

3,4. Sđd, T. 18, tr. 72, 73

5. Hồ Chí Minh toàn tập, CTQG, H, 2000, T.8, tr. 492.

 

Nguồn: Tạp chí Lịch sử Đảng

 

 

Ngày đăng:  01/11/2007
Số lần xem:  3570

Các tin đã đưa
  • Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội tại Lễ khai giảng năm học 2007 - 2008 Học viện CT-HC Quốc gia HCM
  • Bài phát biểu của đồng chí Lê Hữu Nghĩa tại Lễ khai giảng năm học 2007-2008 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
  • Diễn văn khai mạc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 7/9/1957 tại lớp học lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc
  •  Quay lại

    TRANG CHỦ      GIỚI THIỆU      THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG      VĂN BẢN QUẢN LÝ      BÀI VIẾT CHUYÊN ĐỀ      SƠ ĐỒ WEBSITE      SEARCH      EMAIL      TIN NỘI BỘ      ENGLISH