"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ Quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh) English
 
 Chi tiết bài viết

CHÍNH TRỊ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

PGS,TS NGÔ NGỌC THẮNG(*)

 

Phát triển bền vững cũng như toàn cầu hóa là những xu hướng tất yếu, khách quan của thời đại, đồng thời cũng là một trong những chủ đề được đề cập đến nhiều nhất trên các diễn đàn quốc gia và quốc tế từ vài thập niên gần đây. Quan tâm đến vấn đề này không chỉ có các nhà kinh tế, các chính khách, các nhà lãnh đạo, quản lý, mà còn có cả các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có khoa học chính trị. (*)

Thật ra không phải đến thời hiện đại, khi vấn đề phát triển bền vững được đặt ra một cách cấp bách cả về lý luận và thực tiễn thì mới có sự quan tâm nghiên cứu của khoa học chính trị. Những tư tưởng về phát triển xã hội, trong đó bao hàm ý tưởng về phát triển bền vững đã có manh nha từ sớm, trong các học thuyết triết học về nhân sinh và xã hội, trong những tác phẩm của các nhà tư tưởng chính trị thời cổ đại ở cả phương Tây (Hy Lạp, La Mã) và phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ). Nếu như ở phương Tây, trong các học thuyết về sự phát triển thường hướng đến sự khám phá các quy luật tự nhiên, chinh phục và làm chủ tự nhiên, nhờ đó khoa học tự nhiên có điều kiện phát triển mạnh mẽ và góp phần đắc lực vào sự phát triển nói chung, thì ở phương Đông lại có xu hướng đi tìm triết lý phát triển trong lĩnh vực xã hội, trong những vấn đề liên quan đến con người và việc “trị quốc”, “an dân”, làm yên lòng người, để thiên hạ thái bình, thịnh trị. Trong mối quan hệ với tự nhiên, phương Đông quan niệm: con người là sản phẩm và là một bộ phận không thể tách rời của tự nhiên. Để tồn tại và phát triển, con người cần sống hòa đồng với thiên nhiên, tôn trọng tự nhiên, thuận theo tự nhiên, không nên can thiệp, thay đổi tự nhiên, làm trái với cái “Đạo” của trời, đất. Để phát triển bền vững, không chỉ nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mà còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữ được ổn định xã hội. Triết lý “Tam tài” của phương Đông nhấn mạnh: muốn tồn tại và phát triển cần phải xử lý tốt mối quan hệ giữa ba yếu tố THIÊN - ĐỊA - NHÂN; phải có được “Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa”, trong đó “Đắc nhân tâm” - thu phục được lòng người, phát huy yếu tố con người - là quan trọng nhất, được coi là triết lý của sự ổn định và phát triển, chìa khóa của sự thành công ở cả cấp độ cá nhân và xã hội. Như vậy, có thể nói ngay từ rất sớm, cùng với các khoa học khác, khoa học chính trị và các “nhà chính trị học” cổ đại cũng đã tham gia vào quá trình tìm kiếm triết lý và phương thức phát triển bền vững, đã sớm nhận ra rằng, muốn phát triển bền vững phải tôn trọng và bảo vệ tự nhiên, gìn giữ môi trường sống của loài người, đồng thời phải quan tâm đến việc “an dân”, phát huy “yếu tố con người” - nói theo cách nói hiện đại. Đây phải chăng cũng là vấn đề, là hướng nghiên cứu mà khoa học chính trị hiện nay cần tiếp tục nhằm góp phần tìm câu trả lời cho sự phát triển bền vững của xã hội hiện đại?

Vào thời hiện đại, đã có nhiều học giả, nhiều lý thuyết tìm cách cắt nghĩa sự phát triển của các quốc gia dựa vào một yếu tố chủ đạo, mang tính quyết định nào đó, như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô dân số hoặc tiến bộ về khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi xem xét, đánh giá sự phát triển của một quốc gia không thể chỉ căn cứ vào một yếu tố riêng biệt, cụ thể nào. Những yếu tố nào đó có thể có ý nghĩa đối với quốc gia này, nhưng lại không có ý nghĩa đối với quốc gia khác. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ hiện nay thì vai trò của những yếu tố trên đối với sự phát triển chỉ có ý nghĩa tương đối. Phải chăng sự phát triển bền vững là kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố cơ bản, quyết định hơn, chi phối tất cả những yếu tố trên, đó là yếu tố con người, gắn với nó là chế độ chính trị - xã hội và việc tổ chức, phát huy yếu tố con người trong sản xuất và trong đời sống xã hội. Đúng vậy, vì suy cho cùng, vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát huy lợi thế vị trí địa lý hay đưa những phát minh khoa học vào cuộc sống phục vụ sự phát triển đều do con người, thông qua con người và chế độ chính trị - xã hội ở đất nước mà họ đang sống thực hiện. Đây là vấn đề đặt ra từ yêu cầu phát triển bền vững mà khoa học chính trị hiện đại và các khoa học xã hội và nhân văn cần nghiên cứu để tìm ra câu trả lời thỏa đáng.

Có một thời, quan niệm về sự phát triển được đồng nhất với tăng trưởng kinh tế, trong đó chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh số lượng và được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ số như tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và bình quân thu nhập trên đầu người. Chịu ảnh hưởng của quan niệm trên, nhiều quốc gia đã tìm cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nóng, dựa trên sự khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên hiện có. Kết quả là những quốc gia phát triển theo mô hình trên đã phải trả giá đắt, phải đối mặt với những vấn đề nan giải kèm theo như: khủng hoảng môi trường tự nhiên, tài nguyên cạn kiệt không thể tái tạo, đói nghèo, gia tăng khác biệt xã hội, mất ổn định chính trị… Không những thế, sự phát triển không bền vững được thực hiện một cách thiển cận, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt nói trên đã góp phần làm cho những vấn đề toàn cầu trở nên gay gắt hơn, đe dọa sự sống của toàn nhân loại, hạn chế và tước đi những cơ hội phát triển của các thế hệ mai sau, làm cho việc giải quyết chúng trở nên khó khăn, tốn kém hơn.

Ý thức được vấn đề trên, vào nửa cuối thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã đưa ra ý tưởng “phát triển bền vững” như là một sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết và hữu ích cho quan niệm phát triển truyền thống. Phát triển bền vững, theo quan điểm của Liên hợp quốc, là sự phát triển lành mạnh, lâu dài, vừa đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, ngay sau khi quan niệm phát triển bền vững nói trên chính thức được thừa nhận, nó tiếp tục là đề tài gây nhiều tranh cãi. Nhiều học giả cho rằng, quan niệm phát triển bền vững mà Liên hợp quốc đưa ra còn quá chung chung, dẫn đến những cách hiểu và đánh giá khác nhau. Nó mới chỉ tập trung vào mối liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế, như vậy là chưa đủ, chưa khai thác được hết giá trị và ý nghĩa của ý niệm “bền vững”. Phát triển bền vững phải là sự đồng tiến hóa của tự nhiên và xã hội dưới hình thức chỉnh thể tự nhiên - xã hội, do đó phải chú ý đến khía cạnh xã hội, phải bao gồm cả ba mặt cơ bản là kinh tế, môi trường và xã hội. Cũng có ý kiến cho rằng phát triển bền vững không nên chỉ được tiếp cận từ góc độ kinh tế hay bảo vệ môi trường sinh thái, mà nó còn cần phải được nhìn nhận từ góc độ xã hội và văn hóa, vì phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội có mối liên hệ hữu cơ. Kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững trong sự phát triển bền vững, hài hòa về văn hóa và xã hội.

Gần đây, trong quá trình tiếp cận khái niệm phát triển bền vững đã xuất hiện một hướng nghiên cứu khác, đó là tìm hiểu và xây dựng các mô hình và cơ chế xã hội cho sự phát triển bền vững, trong đó chủ yếu nhằm vào ba yếu tố căn bản là kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nhiều học giả coi đây là ba trụ cột của xã hội hiện đại. Sự phát triển và tương tác của chúng có ảnh hưởng chi phối đến đời sống xã hội hiện đại ở mức độ khác nhau, góp phần đảm bảo cho xã hội phát triển ổn định, bền vững, hài hòa. Nhiệm vụ chủ yếu và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý của các Chính phủ cũng như vai trò của các tổ chức quốc tế là đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ, tương thích, hài hòa của ba trụ cột chính đó. Cũng có những ý kiến cho rằng, ngoài ba trụ cột trên còn cần trụ cột thứ tư là giới tự nhiên, sinh thái. Nó vừa là giới hạn, vừa là điều kiện cho sự vận động và phát triển, tương tác lẫn nhau của cả ba trụ cột kia, tạo thành “cỗ xe tứ mã” trên con đường đưa nhân loại phát triển một cách bền vững, hài hòa.

 Như vậy, đã có một bước tiến khá dài trong quan niệm về phát triển bền vững. Thay vì chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế và môi trường tự nhiên, giờ đây người ta đã chú ý nhiều hơn đến sự phát triển đồng bộ, hài hòa của tất cả các lĩnh vực, các yếu tố, các bộ phận cấu thành đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. Vấn đề đặt ra đối với khoa học chính trị là, từ góc độ tiếp cận của mình cần làm rõ nội dung phát triển bền vững trong từng lĩnh vực cụ thể, vai trò của chủ thể chính trị trong việc đưa ra những mô hình, phương thức, cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển bền vững. Dưới góc độ của chính trị học, những lĩnh vực được coi là trụ cột của sự phát triển hiện nay là kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân đều chịu sự tác động của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và các thể chế chính trị, các quan hệ chính trị. Ngoài ra, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội công dân, mỗi lĩnh vực đều có phương thức hoạt động, quy luật phát triển riêng, đồng thời có quan hệ biện chứng với nhau, đều vận hành trong một môi trường chính trị, văn hóa, kinh tế, pháp luật… nhất định, đòi hỏi phải có cách tiếp cận cụ thể. Ở đây khoa học chính trị có vai trò quan trọng không thể thay thế trong việc nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề trên, giúp cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển chung của đất nước.

Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, trong đó tất cả các quốc gia đều ở trong thế tùy thuộc và phụ thuộc lẫn nhau trong lựa chọn chính sách và đối sách để tồn tại và phát triển. Thế giới toàn cầu hóa vừa mở ra những cơ hội to lớn cho sự phát triển, nhưng cũng chứa đựng những mâu thuẫn, thách thức khắc nghiệt đối với sự phát triển. Toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa về kinh tế, đòi hỏi và đặt ra yêu cầu phải dân chủ hóa về kinh tế, giải phóng mọi lực cản để lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Dân chủ hóa kinh tế đến lượt nó lại đặt ra yêu cầu phải dân chủ hóa trong chính trị, trước hết là dân chủ hóa trong tổ chức vận hành và kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước, tạo mọi điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng và phát triển đất nước. Việc xóa bỏ những rào cản và sự độc quyền trong kinh tế đặt ra yêu cầu ngăn chặn và xóa bỏ tình trạng quan liêu, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ trong chính trị, gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Như vậy, toàn cầu hóa đã và đang từng bước dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế và toàn bộ cấu trúc hạ tầng, do đó từng bước tác động đến đời sống chính trị và kiến trúc thượng tầng của mỗi quốc gia, làm biến đổi từ những vấn đề mang tính nguyên tắc đến những vấn đề về tổ chức vận hành các thể chế chính trị và xu hướng phát triển của chính trị theo hướng dân chủ hơn, nhân văn hơn. Hơn lúc nào hết, vai trò của chính trị trong việc định hướng, lựa chọn chiến lược phát triển bền vững cho đất nước càng trở nên quan trọng. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa hội nhập, giao lưu, chia sẻ và làm phong phú thêm các giá trị chung của nhân loại, đóng góp vào sự phát triển bền vững của thế giới, đồng thời vẫn giữ được ổn định chính trị, độc lập chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng chính là mối quan tâm thường xuyên và sâu sắc của bất cứ một chính phủ, một nhà nước nào khi trù tính, lựa chọn chính sách, chiến lược phát triển của đất nước. Nghiên cứu quá trình toàn cầu hóa và tác động của nó đến sự phát triển bền vững, từ đó lựa chọn con đường, giải pháp tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển đi lên - đó  là một trong những vấn đề mà khoa học chính trị cần quan tâm nghiên cứu hiện nay.

Đối với nhiều nước phương Tây, khoa học chính trị có lịch sử lâu đời, rất được coi trọng và có nhiều đóng góp trong việc đề xuất các ý tưởng, hình thành lý thuyết về các mô hình phát triển xã hội, tư vấn, phản biện, góp phần xây dựng và hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước. Ở Việt Nam, quá trình hình thành và phát huy vai trò của khoa học chính trị nói chung, chính trị học nói riêng gắn liền với công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội VI (1986). Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa vừa đòi hỏi, vừa tạo môi trường thuận lợi và tiền đề trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của chính trị học và phát huy vai trò khoa học chính trị Việt Nam.

 Vào đầu những năm 90, những tri thức về chính trị học và khoa học chính trị bắt đầu được đưa vào giảng dạy và nghiên cứu trong hệ thống các trường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước như Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính quốc gia và một số trường đại học. Đến nay ở Việt Nam đã hình thành những cơ sở nghiên cứu và đào tạo chính trị học, đã đào tạo chuyên ngành về chính trị học ở bậc sau đại học và trên đại học. Điều đó đã thể hiện tư duy mới và cách tiếp cận mới đối với lý luận chính trị và đời sống chính trị hiện thực, góp phần trang bị cho các tầng lớp nhân dân, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những hiểu biết cơ bản về chính trị và phát triển, về quyền lực nhà nước, về đảng chính trị, về quan hệ giữa nhà nước và công dân nhằm nâng cao văn hoá chính trị, làm cho công dân ý thức được vị trí, vai trò,

quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống chính trị... Đối với Việt Nam hiện nay, thực tiễn chính trị đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cho khoa học chính trị. Đồng thời với thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, phải thực hiện dân chủ hóa và gắn liền với nó là đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách nền hành chính, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, chống quan liêu, tham nhũng ... Điều đó đòi hỏi không chỉ có quyết tâm và bản lĩnh chính trị, mà còn phải có những kiến thức, kinh nghiệm chính trị cần thiết ở tầm khoa học. Việc hiểu biết ở tầm khoa học về những vấn đề chính trị - xã hội, xử lý kịp thời và có căn cứ khoa học các nhiệm vụ chính trị của thời kỳ đổi mới, hội nhập, phát triển bền vững trở thành một yêu cầu cấp bách và nghiêm túc đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các ngành. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy khoa học chính trị trong các nhà trường và học viện nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững ở nước ta.

 Một trong những đóng góp nổi bật của khoa học chính trị thời gian qua là nghiên cứu lý luận chính trị và tổng kết chính trị thực tiễn, góp phần vào việc xác định những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Nhiều công trình nghiên cứu có sự tham gia của các nhà khoa học chính trị đã trực tiếp đề cập đến những vấn đề lý luận về đổi mới, về triết lý phát triển và mô hình phát triển bền vững ở Việt Nam(1). Thông qua những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, khoa học chính trị đã góp phần giải đáp và làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đất nước đặt ra như: định hướng xã hội chủ nghĩa và bản chất, mục tiêu đổi mới ở Việt Nam; quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển, giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị, giữa đổi mới và ổn định, giữa mở cửa, hội nhập trong hợp tác, cạnh tranh với độc lập tự chủ, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc v.v.. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và khảo sát các mô hình phát triển, tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học và ý kiến của các chuyên gia, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thời đại mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định quan điểm phát triển đất nước trong thời kỳ mới là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”(2), trong đó phát triển kinh tế phải đi đôi với với việc đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Quan điểm trên đã được thể hiện trong Cương lĩnh và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, nhưng mới chỉ là những nguyên tắc, định hướng chung. Ở cấp độ ứng dụng, khoa học chính trị cần tập trung nghiên cứu công nghệ chính trị, cụ thể hóa những tư tưởng, quan điểm, những chiến lược phát triển tổng quát, vĩ mô thành những chương trình chính trị, chính sách, giải pháp thực tiễn.

Khoa học chính trị Việt Nam, trong đó chính trị học là một khoa học tổng hợp, liên ngành, là chính trị học của đổi mới, chính trị học phát triển, đang đứng trước cơ hội đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển bền vững bằng việc nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, tăng cường giáo dục những tri thức về chính trị và phát triển bền vững, về hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, góp phần hình thành và phát triển văn hoá chính trị của xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị của nhân dân trong việc thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 

(1) Như Chương trình KX- 01: “Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” (1991 - 1995); Công trình “Triết lý phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt yếu” (2002) của GS, TS Phạm Xuân Nam chủ biên; “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2006) của GS,TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên v.v..

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 162.



(*) Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I.

Số lần xem:  1677

Các tin đã đưa
  • 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng
  • Bản Di chúc bất hủ trường tồn cùng dân tộc
  • Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề cấp bách đặt ra cho tư duy lý luận
  • Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Lễ kỉ niệm 60 năm truyền thống Học viện
  • Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và những giải pháp đối với nền kinh tế Việt Nam
  •  Quay lại


      


    HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
    Địa chỉ: 135 Nguyễn Phong Sắc - Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội
    Tel: (84-4) 8361068 - Fax: (84-4) 8361194 - Email: vphv@npa.org.vn
    Giấy phép thông tin số 99/GP-TTĐT của Bộ TTTT cấp ngày 11/09/2008
    Tổng biên tập: PGS.TS Trương Thị Thông - Phó Giám đốc Học viện
    WebSite được thiết kế bởi công ty HiPT dựa trên nền DotNetNuke