40 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
PGS, TS PHẠM HỒNG CHƯƠNG(*)
Năm nay là năm thứ 40 Đảng và nhân dân ta thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện lời thề với Người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhân dịp này, Đảng ta sẽ có tổng kết toàn diện về việc thực hiện Di chúc. Dưới góc độ lịch sử, rất cần nhìn lại 40 năm Đảng ta làm theo lời căn dặn “trước hết” và “việc cần phải làm trước tiên” trong Di chúc của Người.
Năm 1989, nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã công bố toàn văn các bản thảo di chúc của Người: văn bản thứ nhất đề ngày 15-5-1965; văn bản thứ hai viết khi Người “vừa 78 tuổi”; văn bản thứ ba ghi tháng 5-1968; văn bản thứ tư đề ngày 10-5-1969. Trong các văn bản này, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “trước hết” và “việc cần phải làm trước tiên” là lời căn dặn của Người đối với Đảng.
Từ tổng kết lịch sử của Đảng và dân tộc: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta” - mà trong Di chúc “Trước hết nói về Đảng” Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Người cũng chỉ ngay rằng: “cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất” là phải giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng: “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, là “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
Đó là lời căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”, nên “mỗi đảng viên và cán bộ” phải: “thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Đây là những điều căn dặn được Người viết từ năm 1965, trong bản đầu tiên (và giữ nguyên trong văn bản công bố năm 1969). Những vấn đề này được Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ rất kỹ lưỡng, nên trong các bản sau đó Người không có sửa chữa nào vào các nội dung trên.
Nhưng đến tháng 5-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cân nhắc khi viết rằng “khi xem lại lá thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết”. Mấy điểm cần phải viết thêm ấy (không có trong bản trong bản công bố năm 1969), là căn dặn của Người với Đảng ta về “việc cần làm trước tiên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rằng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn, Đảng, quân và dân ta phải tiến hành nhiệm vụ “hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”. Người cho rằng: “Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn” và chỉ ra rằng cuộc chiến đấu này đòi hỏi “chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng và chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”(2). Vì vậy, Người đã căn dặn Đảng ta: Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng.
Theo Người, mục đích của việc phải làm trước tiên này là “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(3).
Như vậy, trong di huấn để lại cho Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta hai vấn đề lớn - hai vấn đề để tạo ra sức mạnh nội tại của Đảng là: 1) Điều Người căn dặn với Đảng trước hết là vấn đề đoàn kết nội bộ - vấn đề xây dựng Đảng; 2) Việc Người căn dặn Đảng cần làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng. Đây là những công việc phải làm “trước tiên”, “trước hết”, vì đó là những nhiệm vụ căn cốt để Đảng thật sự “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại trong Di chúc căn dặn Đảng ta.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm qua, nhiệm vụ trước hết là xây dựng Đảng và việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta hết sức chú trọng. Chính điều đó đã làm cho Đảng đủ tầm lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, từ khi bắt đầu khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, trước sự vận động của tình hình và nhiệm vụ mới, vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng được Đảng ta đặt ra nghiêm túc từ trong nhận thức đến hoạt động thực tiễn.
Với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”(4) để thấy rõ những khuyết điểm trong xây dựng Đảng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định: “Đại hội lần thứ VI phải là đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong việc tăng cường sức mạnh của Đảng, nâng cao uy tín của Đảng trong quần chúng, bảo đảm cho Đảng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ mới. Đảng ta phải trở thành một Đảng lãnh đạo vững mạnh trong cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Với ý chí: “Mỗi người cộng sản chúng ta cần phải suốt đời học tập, noi gương đạo đức, tác phong của Bác Hồ, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, ghi nhớ và làm theo lời dạy của Người, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5) và với quyết tâm: “Trong tư tưởng cũng như trong hành động phải triệt để chống tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi”(6), “phải làm trong sạch Đảng, trước hết loại bỏ ngay những phần tử thoái hóa, biến chất”(7), Đảng ta đã đưa ra 6 giải pháp lớn nhằm “chăm lo xây dựng mình vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức để từ đó tác động quyết định đến sự phát triển của cách mạng nước ta”(8). Triển khai vào thực tiễn, Đảng ta đã tiến hành một loạt các biện pháp về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đặc biệt là tiến hành Cuộc vận động chỉnh đốn làm trong sạch Đảng, đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong cả nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội VI của Đảng đã đặt cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở những nhiệm kỳ sau tiếp theo.
Trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta đã chỉ rõ: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng...”(9). Tại Đại hội VII, trước những biến chuyển mới của tình hình, bên cạnh các biện pháp xây dựng Đảng, Đảng ta đã xác định quyết tâm tổ chức thực hiện “làm trong sạch Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên”, khai trừ khỏi Đảng “những đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, cơ hội, gây chia rẽ, bè phái, trù dập, ức hiếp quần chúng”(10). Lần đầu tiên, với Đại hội VII, Đảng ta đã quyết định đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp “những người không tha thiết với Đảng, giảm sút ý chí phấn đấu, không tích cực làm nhiệm vụ đảng viên, không còn tín nhiệm trong quần chúng...”(11).
Tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới (1986-1996), Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt là bài học phải được tiếp tục khẳng định và phải đẩy mạnh trong hoạt động thực tiễn của Đảng. Đặt vấn đề, trước những tác động của nền kinh tế thị trường, mở cửa với bên ngoài, “cán bộ đảng viên, hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố rất phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, vấn đề giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng đứng trước những thử thách mới. Song, Đảng thiếu sự chuẩn bị đầy đủ cho bước chuyển này, chưa chú ý đúng mức vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức đối với cán bộ, đảng viên”(12), Đại hội VIII khẳng định: “Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình”(13). Đảng ta đã chỉ ra 7 nhiệm vụ và giải pháp lớn, mà “nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu” là “Giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng” và trong đó đặt lên trên hết vấn đề “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(14). Với tinh thần đó, trong nhiệm kỳ Đại hội VIII, Đảng ta đã tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2).
Đại hội IX của Đảng chỉ ra 4 bài học sau 15 năm thực hiện đổi mới, trong đó khẳng định việc “thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng”(15) là một trong những căn nguyên dẫn đến những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên, Đại hội IX cũng chỉ ra rằng: “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống”(16). Đại hội quyết định: “Trong những năm tới, toàn Đảng phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII”, tập trung làm tốt những công tác quan trọng mà hàng đầu là vấn đề “Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”(17). Trong đó, “Mỗi cấp ủy, mỗi chi bộ có kế hoạch định kỳ kiểm điểm việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”(18).
Từ nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”, Đại hội X đã kết luận: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng chưa đạt yêu cầu”(19). Rút kinh nghiệm từ 20 năm xây dựng Đảng, xuất phát từ thực tiễn trên, Đại hội X quyết định: “tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng” với mục tiêu “tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”(20). Đại hội X đã đề ra 9 nhiệm vụ và giải pháp lớn về xây dựng Đảng, trong đó đề xuất cuộc vận động: “Học tập, quán triệt, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(21). Sau khi phát động đến nay, cuộc vận động bước đầu đã đem lại những hiệu quả tích cực cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Thực tiễn trên cho thấy, 40 năm qua Đảng ta đã nghiêm túc thực hiện lời căn dặn “trước hết là vấn đề xây dựng Đảng” và “việc phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó đã đem lại thắng lợi cho sự nghiệp đổi mới, giữ vững chế độ và sự lãnh đạo xã hội của Đảng trong hoàn cảnh sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa và mất quyền lãnh đạo của các đảng cộng sản ở các nước Liên xô và Đông Âu. Tuy nhiên, qua từng Đại hội, Đảng ta cũng luôn chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra những yếu kém trong lãnh đạo xây dựng đất nước là do công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng chưa đạt được yêu cầu trước sự vận động nhanh chóng của hiện thực xã hội.
Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) chỉ ra sự xuất hiện của 4 nguy cơ. Đại hội VIII xác định đó “vẫn là nguy cơ, thách thức lớn”, trong đó “chệch hướng xã hội chủ nghĩa và quan liêu, tham nhũng vẫn đang thật sự là những nguy cơ lớn”(22). Đến Đại hội IX, Đảng ta đánh giá bốn nguy cơ “vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp” và nhấn mạnh đến “tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin của nhân dân”(23). Đến Đại hội X, Đảng ta vẫn tiếp tục nhận định trên và nhấn mạnh tới “Những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục”(24).
Trước những vận động nhanh chóng và phức tạp khôn lường của thời cuộc, trước thực tiễn của kết quả công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong 40 năm qua, chúng ta càng thấy giá trị và sức mạnh của những tiên lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn” trong sự nghiệp xây dựng đất nước và mức độ gian lao của “một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”(25) ngay trong Đảng, trong từng cán bộ, đảng viên của Đảng và toàn xã hội, để giữ vững ý chí và kiên trì công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, kiên trì cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Từ nội lực của công cuộc đổi mới, nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đứng vững trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Khi thấy được những khó khăn của một thời kỳ hoạt động duy ý chí chúng ta mới càng thấu hiểu hơn giá trị và ý nghĩa lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải có kế hoạch, sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trước những nhiệm vụ mới, trước những cuộc chiến đấu mới.
Thắng lợi trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới cũng đồng nghĩa với việc khẳng định thắng lợi của ý chí và quyết tâm của toàn Đảng trong thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Điều đó làm cho chúng ta thấm nhuần sâu sắc hơn nội dung lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn đối với Đảng cầm quyền thì phải đạt tới thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải làm cho đảng viên của Đảng phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để từ đó tiếp tục đẩy mạnh, với chất lượng mới, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng cho ngang tầm với vai trò và nhiệm vụ của Đảng hiện nay và trong tương lai.
Bốn mươi năm nhìn lại việc thực hiện lời căn dặn trước hết và trước tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng, từ những thắng lợi và khó khăn, chúng ta càng khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện Di chúc của Người nói chung và công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng. Chỉ có như vậy, Đảng và mỗi đảng viên của Đảng mới xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng con người theo con đường chủ nghĩa xã hội.
(1),(2),(3),(25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 498, 503, 505, 503.
(4),(5),(6),(7),(8) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 346, 473, 474, 475, 458.
(9),(10),(11) Sđd, t.51, tr,147, 219, 219.
(12),(13),(14),(22) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.137,138.139,79.
(15),(16),(17),(18),(23) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.82, 52,52,139, 67.
(19),(20),(21),(24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.65, 279, 286, 22.
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.