|
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Số: 1486 /QĐ-HVCT-HCQG |
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2010 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ
GIÁM ĐỐC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
- Căn cứ Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 22-10-2007 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Nghị định số 129/2008/NĐ-CP ngày 17-12-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị -Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07-5-2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo trình độ tiến sỹ;
- Căn cứ Công văn số 2333/BGDĐT-GDĐH ngày 04-5-2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai thực hiện Điều 48 Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ;
- Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Điều 2. Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các văn bản trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.
Điều 3. Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo, Chánh Văn phòng Học viện và Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thi hành Quy chế này.
|
|
GIÁM ĐỐC
(đã ký)
Lê Hữu Nghĩa |
Quy chế
Đào tạo trình độ tiễn sĩ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1486/QĐ-HVCT-HCQG ngày 30 tháng 6 năm 2010
của Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định về đào tạo trình độ tiến sĩ gồm các nội dung: tuyển sinh; chương trình và tổ chức quản lý đào tạo; luận án và bảo vệ luận án; thẩm định luận án và cấp bằng tiến sĩ; khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên cơ sở các quy định của Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ được ban hành theoThông tư số 10/2009/TT-BGDĐT, ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Quy chế này áp dụng tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (sau đây gọi là Học viện).
Điều 2. Mục tiêu đào tạo
Đào tạo trình độ tiến sĩ là đào tạo những nhà khoa học, có trình độ cao về lý thuyết và có năng lực thực hành phù hợp, có khả năng nghiên cứu độc lập, sáng tạo, khả năng phát hiện, phân tích và giải quyết được những vấn đề mới, có ý nghĩa khoa học thuộc chuyên ngành đào tạo và hướng dẫn nghiên cứu khoa học.
Điều 3. Thời gian đào tạo
1. Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ là 3 năm tập trung liên tục; đối với người có bằng tốt nghiệp đại học là 04 năm tập trung liên tục.
2. Trường hợp nghiên cứu sinh không theo học tập trung liên tục và được Học viện chấp nhận thì chương trình đào tạo của nghiên cứu sinh phải có tổng thời gian học và nghiên cứu như quy định tại khoản 1 của Điều này, trong đó có ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại Học viện để thực hiện đề tài luận án.
Điều 4. Đăng ký mở chuyên ngành đào tạo
1. Ngoài các chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Học viện, các viện trực thuộc Học viện (sau đây gọi là viện chuyên ngành) muốn đăng ký mở chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ với Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi tờ trình (qua Vụ Quản lý đào tạo) đề nghị Giám đốc Học viện cho phép xây dựng đề án đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ. Trong tờ trình phải nêu rõ tên chuyên ngành hoặc ngành đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ; đội ngũ giảng viên; kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến chuyên ngành đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ; khả năng xây dựng chương trình và hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ.
2. Vụ Quản lý đào tạo thẩm định các điều kiện đăng ký mở chuyên ngành đào tạo tiến sĩ của viện chuyên ngành và đề xuất với Giám đốc Học viện đồng ý hoặc không đồng ý để viện chuyên ngành xây dựng đề án đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ.
3. Căn cứ vào nhu cầu đào tạo, Giám đốc Học viện có thể yêu cầu các viện chuyên ngành xây dựng đề án đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ để Học viện đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Nếu được Giám đốc Học viện cho phép xây dựng đề án đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ, viện chuyên ngành chủ trì, phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo và các đơn vị liên quan xây dựng đề án đăng ký mở chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ của đơn vị, Vụ Quản lý đào tạo có trách nhiệm tổ chức thẩm định đề án trình Giám đốc Học viện phê duyệt, trước khi nộp hồ sơ đăng ký đào tạo trình độ tiến sĩ với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 5. Các chuyên ngành đào tạo của Học viện
Các chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ của Học viện gồm các chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định giao cho Học viện.
Chương 2
TUYỂN SINH
Điều 6 Thời gian và hình thức tuyển sinh
1. Thời gian tuyển sinh: mỗi năm tổ chức tuyển sinh một lần vào tháng 2 hoặc tháng 8.
2. Hình thức tuyển sinh: xét tuyển.
Điều 7. Điều kiện đối với người dự tuyển
Người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ tại Học viện phải có các điều kiện sau:
1. Là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đang công tác (trong biên chế hoặc ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn) tại các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước. Các trường hợp khác do Giám đốc Học viện quyết định.
2. Có bằng thạc sĩ phù hợp với chuyên ngành đăng ký dự tuyển. Trường hợp chưa có bằng thạc sĩ thì phải có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy loại khá trở lên, ngành học phù hợp với chuyên ngành đăng ký dự tuyển (Danh mục các chuyên ngành phù hợp, chuyên ngành gần với chuyên ngành đào tạo và những học phần học bổ sung được Học viện công bố trong Thông báo tuyển sinh hằng năm).
3. Có một bài luận về dự định nghiên cứu, trong đó trình bày rõ ràng đề tài hoặc lĩnh vực nghiên cứu, lý do lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu, mục tiêu và mong muốn đạt được, lý do lựa chọn Học viện là cơ sở đào tạo; kế hoạch thực hiện trong từng thời kỳ của thời gian đào tạo; những kinh nghiệm, kiến thức, sự hiểu biết cũng như những chuẩn bị của thí sinh trong vấn đề hay lĩnh vực dự định nghiên cứu; dự kiến làm việc sau khi tốt nghiệp; đề xuất người hướng dẫn.
4. Có hai thư giới thiệu của hai nhà khoa học có chức danh khoa học như giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ cùng chuyên ngành; hoặc có một thư giới thiệu của nhà khoa học có chức danh khoa học hoặc học vị tiến sĩ cùng chuyên ngành và một thư giới thiệu của thủ trưởng đơn vị công tác của thí sinh; phải có ít nhất một nhà khoa học có đủ điều kiện hướng dẫn, đồng ý hướng dẫn nghiên cứu sinh. Những người giới thiệu này cần có ít nhất 06 tháng công tác hoặc cùng hoạt động chuyên môn với thi sinh. Thư giới thiệu có xác nhận chữ ký của thủ trưởng đơn vị công tác người giới thiệu, phải có nhận xét, đánh giá về năng lực và phẩm chất của người dự tuyển, cụ thể:
a) Phẩm chất đạo đức, đặc biệt đạo đức nghề nghiệp;
b) Năng lực hoạt động chuyên môn;
c) Phương pháp làm việc;
d) Khả năng nghiên cứu;
đ) Khả năng làm việc theo nhóm;
e) Điểm mạnh và yếu của người dự tuyển;
g) Triển vọng phát triển về chuyên môn;
h) Những nhận xét khác và mức độ ủng hộ, giới thiệu thí sinh làm nghiên cứu sinh.
5. Có trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án quy định tại Điều 8 của Quy chế này.
6. Được cơ quan quản lý nhân sự giới thiệu dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ.
7. Cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong quá trình đào tạo tại Học viện (đóng học phí; hoàn trả kinh phí đào tạo cho Học viện nếu không đủ điều kiện bảo vệ luận án tiến sĩ).
Điều 8. Yêu cầu về trình độ ngoại ngữ của người dự tuyển
1. Thi viết tương đương trình độ C các ngoại ngữ: Tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung.
2. Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh, Giám đốc Học viện quyết định việc miễn thi môn ngoại ngữ cho các trường hơn sau:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiếng Anh; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ tại nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong nước mà chương trình trình đào tạo là tiếng Anh không qua phiên dịch;
b) Có chứng chỉ tiếng Anh của các cơ sở đào tạo ngoại ngữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, các trung tâm khảo thí ngoại ngữ quốc tế có thẩm quyền với yêu cầu trình độ tiếng Anh TOEFL ITP 450 điểm, TOEFL iBT 45 điểm hoặc IELTS 4.5 điểm trở lên hoặc tương đương trong thời hạn 3 năm (36 tháng) kể từ ngày cấp chứng chỉ đến ngày dự xét tuyển sinh đào tạo trình độ tiến sĩ;
c) Là người nước ngoài được Học viện tiếp nhận đào tạo.
Điều 9. Thông báo tuyển sinh
1. Chậm nhất ba tháng trước mỗi kỳ tuyển sinh, Học viện thông báo tuyển sinh và gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo để báo cáo.
2. Thông báo tuyển sinh được niêm yết tại Học viện, gửi đến Sở Nội vụ, Ban Tổ chức tỉnh uỷ, thành uỷ, trường Chính trị các tỉnh, thành phố trong toàn quốc; các bộ, ban, ngành ở Trung ương; các trường Đại học, Học viện, các trường đào tạo của các tổ chức đoàn thể và đăng trên website của Học viện (http://www:hcma.vn) và website của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nêu rõ:
a) Chỉ tiêu tuyển sinh. Giám đốc Học viện quyết định chỉ tiêu tuyển sinh của từng chuyên ngành đào tạo, dựa trên cơ sở: tổng chỉ tiêu tuyển sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, năng lực chuyên môn, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất yêu cầu nghiên cứu của từng chuyên ngành;
b) Kế hoạch tuyển sinh;
c) Yêu cầu về hồ sơ dự tuyển và thời gian nhận hồ sơ;
d) Thời gian xét tuyển, thời gian công bố kết quả tuyển chọn và thời gian nhập học;
đ) Danh mục các hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu hoặc đề tài nghiên cứu kèm theo danh sách các nhà khoa học có thể nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, số lượng nghiên cứu sinh có thể tiếp nhận theo từng hướng nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu;
e) Yêu cầu, thông tin cần thiết khác đối với thí sinh trong kỳ tuyển sinh.
Điều 10. Hội đồng tuyển sinh
Hàng năm, để điều hành mọi công việc liên quan đến công tác tuyển sinh, Giám đốc Học viện ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển sinh để điều hành mọi công việc liên quan đến công tác tuyển sinh.
1. Thành phần của Hội đồng tuyển sinh gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực và các uỷ viên.
a) Chủ tịch: Giám đốc Học viện hoặc Phó Giám đốc Học viện được Giám đốc Học viện uỷ quyền;
b) Phó chủ tịch: Phó Giám đốc Học viện phụ trách đào tạo;
c) Uỷ viên thường trực: Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo;
d) Các uỷ viên: đại diện lãnh đạo các viện chuyên ngành có mã số đào tạo và có thí sinh đăng ký dự tuyển, Chánh Văn phòng Học viện.
Những người có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự tuyển không được tham gia Hội đồng tuyển sinh và các ban giúp việc cho Hội đồng tuyển sinh.
2. Trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng tuyển sinh:
Hội đồng tuyển sinh đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Giám đốc Học viện và có nhiệm vụ: thông báo tuyển sinh; tiếp nhận hồ sơ dự tuyển; tổ chức xét tuyển và công nhận trúng tuyển; tổng kết công tác tuyển sinh; quyết định khen thưởng, kỷ luật; báo cáo kịp thời kết quả công tác tuyển sinh cho Giám đốc Học viện và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Trách nhiệm và quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh:
Phổ biến, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các quy định về tuyển sinh; quyết định và chịu trách nhiệm toàn bộ các mặt công tác liên quan đến tuyển sinh tại quy định tại Chương II của Quy chế này; đảm bảo quá trình tuyển chọn một cách công khai, minh bạch, có trách nhiệm trước xã hội để chọn được thí sinh có năng lực, đạo đức nghề nghiệp, triển vọng nghiên cứu và khả năng hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu, theo kế hoạch chỉ tiêu đào tạo và các hướng nghiên cứu của Học viện; quyết định thành lập các ban giúp việc cho Hội đồng tuyển sinh bao gồm Ban Thư ký và các Tiểu ban chuyên môn. Các ban này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh.
Điều 11. Ban thư ký Hội đồng tuyển sinh
1. Thành phần Ban thư ký Hội đồng tuyển sinh gồm có: Trưởng ban do Uỷ viên thường trực Hội đồng tuyển sinh kiêm nhiệm và các uỷ viên.
2. Trách nhiệm và quyền hạn của Ban thư ký Hội đồng tuyển sinh:
a) Chuẩn bị các mẫu biểu, hồ sơ cho Hội đồng tuyển sinh;
b) Nhận và xử lý hồ sơ của thí sinh dự tuyển; thu lệ phí dự tuyển;
c) Lập danh sách trích ngang các thí sinh đủ điều kiện dự tuyển cùng hồ sơ hợp lệ của thí sinh báo cáo Hội đồng tuyển sinh phê duyệt, gửi tới Tiểu ban chuyên môn;
d) Gửi tài liệu và liên hệ để tổ chức các cuộc họp đánh giá xét tuyển của các Tiểu ban chuyên môn;
đ) Tiếp nhận kết quả đánh giá xét tuyển của các Tiểu ban chuyên môn, tổng hợp trình Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh xem xét;
e) Gửi giấy báo kết quả xét tuyển cho tất cả các thí sinh dự tuyển;
3. Trách nhiệm của Trưởng ban thư ký: chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh trong việc điều hành công tác của Ban thư ký.
Tham gia tổ chức thực hiện xét tuyển của các Tiểu ban chuyên môn theo Quy chế này.
Điều 12. Tiểu ban chuyên môn
1. Viện trưởng Viện chuyên ngành là Trưởng Tiểu ban chuyên môn. Căn cứ hồ sơ dự tuyển, chuyên ngành và hướng nghiên cứu của các thí sinh, Trưởng tiểu Ban chuyên môn đề xuất các Tiểu ban chuyên môn và thành viên của từng tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh trình Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh quyết định.
2. Tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh gồm 5 người có trình độ tiến sĩ trở lên, am hiểu lĩnh vực và vấn đề dự định nghiên cứu của thí sinh, là cán bộ các viện chuyên ngành của Học viện, cán bộ khoa học, giảng viên trong Học viện hoặc ngoài Học viện (nếu cần). Thành phần Tiểu ban chuyên môn gồm có Trưởng tiểu ban, Thư ký và các uỷ viên.
3. Tiểu ban chuyên môn có trách nhiệm tổ chức xem xét đánh giá hồ sơ dự tuyển, đề cương nghiên cứu và việc trình bày, trao đổi xung quanh dự định nghiên cứu sinh của thí sinh, xếp loại các thí sinh theo danh sách điểm từ cao đến thấp; gửi kết quả về Ban Thư ký tổng hợp báo cáo Hội đồng tuyển sinh.
Điều 13. Làm thủ tục cho thí sinh xét tuyển
Trước ngày xét tuyển, Ban Thư ký hoàn thành bản tổng hợp toàn bộ danh sách thí sinh dự thi, danh sách thí sinh của từng phòng xét tuyển để dán trước phòng thi. Mỗi chuyên ngành xét tuyển có một bản danh sách có dán ảnh của thí sinh để Tiểu ban chuyên môn đối chiếu khi xét tuyển.
Điều 14. Trách nhiệm của thí sinh
Trước ngày tổ chức xét tuyển một ngày, thí sinh phải có mặt tại Học viện để làm thủ tục xét tuyển, nghe phổ biến quy chế xét tuyển và địa điểm xét tuyển.
Thí sinh phải có mặt tại địa điểm xét tuyển đúng ngày, giờ quy định. Vắng mặt, đến không đúng giờ quy định tại buổi xét tuyển, thí sinh không được xét tuyển.
Điều 15. Quy trình xét tuyển nghiên cứu sinh
1. Thành viên Tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh đánh giá phân loại thí sinh thông qua hồ sơ dự tuyển, kết quả học tập ở trình độ đại học, thạc sĩ; trình độ ngoại ngữ; thành tích nghiên cứu khoa học đã có; kinh nghiệm hoạt động chuyên môn; chất lượng bài luận (đề cương) đăng ký xét tuyển; ý kiến nhận xét đánh giá và ủng hộ thí sinh trong hai thư giới thiệu.
Tài liệu của các thí sinh và các quy định xét tuyển phải được chuyển đến các thành viên Tiểu ban chuyên môn trước ngày tổ chức xét tuyển ít nhất 05 ngày làm việc.
Tiểu ban chuyên môn chỉ họp xét tuyển khi có đầy đủ các thành viên theo quyết định của Giám đốc Học viện, Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh.
2. Tiểu ban chuyên môn nghe từng thí sinh trình bày và trả lời câu hỏi khi xét tuyển. Các thí sinh khác và những người không có nhiệm vụ trong buổi xét tuyển không được dự buổi xét tuyển.
3. Thí sinh trình bày về vấn đề dự định nghiên cứu và kế hoạch thực hiện trước tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh. Vấn đề dự định nghiên cứu của thí sinh phải phù hợp với các lĩnh vực, hướng nghiên cứu mà đơn vị chuyên môn đang thực hiện, có người đủ tiêu chuẩn theo quy định đồng ý nhận hướng dẫn. Các thành viên Tiểu ban chuyên môn đặt các câu hỏi phỏng vấn để đánh giá thí sinh về các mặt: tính cách, trí tuệ, sự rõ ràng về ý tưởng đối với các mong muốn đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ, tính khả thi trong kế hoạch đạt được những mong muốn đó và những tư chất cần có của một nghiên cứu sinh. Tiểu ban chuyên môn phải có văn bản nhận xét, đánh giá phân loại thí sinh về nội dung này.
4. Căn cứ các yêu cầu chung, Tiểu ban chuyên môn đánh giá theo thang điểm do Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh quyết định, các thành viên chấm điểm, điểm của thí sinh là điểm trung bình cộng của các thành viên, sau đó Tiểu ban chuyên môn tổng hợp kết quả đánh giá của các thành viên, lập danh sách thí sinh xếp thứ tự theo điểm đánh giá trung bình cộng của các thành viên từ cao xuống thấp và chuyển kết quả về Ban Thư ký Hội đồng tuyển sinh.
5. Ban Thư ký Hội đồng tuyển sinh có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ dự tuyển, chuyển kết quả xếp loại xét tuyển cho Hội đồng tuyển sinh. Hội đồng tuyển sinh quy định nguyên tắc xét tuyển và xác định danh sách thí sinh trúng tuyển căn cứ điểm trung bình từ cao đến thấp và chỉ tiêu tuyển sinh đã được Giám đốc Học viện quyết định cho từng chuyên ngành đào tạo trình Giám đốc Học viện phê duyệt.
Trong trường hợp thí sinh có điểm trung bình bằng nhau, thì thứ tự ưu tiên trong xét tuyển là: kết quả học tập ở bậc thạc sĩ (thí sinh có bằng thạc sĩ) hoặc đại học (thí sinh có bằng đại học); điểm thành tích nghiên cứu khoa học; điểm bài luận nghiên cứu, trường hợp tất cả các điểm trên bằng nhau Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh có quyền quyết định thí sinh trúng tuyển.
6. Tiểu ban chuyên môn của Hội đồng chỉ tổ chức xét tuyển, đánh giá thí sinh 1 lần, không tổ chức đánh giá lại. Trường hợp tiểu ban chuyên môn vi phạm các quy định của Quy chế này, có chứng cứ cụ thể, tuỳ từng trường hợp, Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh sẽ ra quyết định huỷ một phần hoặc toàn bộ kết quả đánh giá của Tiểu ban chuyên môn. Việc tổ chức đánh giá xét tuyển lại một phần hoặc toàn bộ kết quả sẽ do một Tiểu ban chuyên môn khác được Giám đốc Học viện quyết định.
Điều 16. Triệu tập thí sinh trúng tuyển
1. Căn cứ danh sách thí sinh trúng tuyển đã được Giám đốc Học viện, Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh phê duyệt, Vụ Quản lý đào tạo gửi giấy báo nhập học đến các thí sinh được tuyển chọn.
2. Sau khi nghiên cứu sinh đăng ký nhập học chính thức, Giám đốc Học viện ra quyết định công nhận nghiên cứu sinh, đề tài luận án, chuyên ngành, người hướng dẫn và thời gian đào tạo.
Chương 3
CHƯƠNG TRÌNH VÀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 17. Chương trình đào tạo
1. Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ nhằm giúp nghiên cứu sinh hoàn chỉnh và nâng cao kiến thức cơ bản, có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên ngành, có kiến thức rộng về các ngành liên quan; hỗ trợ nghiên cứu sinh rèn luyện khả năng nghiên cứu, khả năng xác định vấn đề và độc lập giải quyết các vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn, khả năng thực hành cần thiết.
2. Nội dung chương trình đào tạo tiến sĩ phải hỗ trợ nghiên cứu sinh tự học những kiến thức cơ bản và nâng cao về chuyên ngành, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp viết các bài báo khoa học và trình bày kết quả nghiên cứu trước các nhà nghiên cứu trong nước, quốc tế.
3. Phương pháp đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện chủ yếu bằng tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học; coi trọng rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo trong phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn.
4. Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ gồm ba phần:
- Phần 1: Các học phần bổ sung;
- Phần 2: Các học phần ở trình độ tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan;
- Phần 3: Nghiên cứu khoa học và luận án tiến sĩ.
Điều 18. Các học phần bổ sung
Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh.
1. Đối với nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ: các học phần bổ sung bao gồm các học phần ở trình độ thạc sĩ thuộc chuyên ngành tương ứng, được học cùng với học viên đào tạo thạc sĩ cùng chuyên ngành trong hai năm đầu của thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ, có khối lượng từ 27 đến 36 tín chỉ, chưa kể các môn triết học và ngoại ngữ.
2. Đối với nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ nhưng ở chuyên ngành gần với chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, có bằng thạc sĩ đúng chuyên ngành nhưng tốt nghiệp đã nhiều năm hoặc do cơ sở đào tạo khác cấp thì trên cơ sở đối chiếu với chương trình đào tạo hiện tại của Học viện, nghiên cứu sinh học bổ sung các học phần cần thiết theo yêu cầu của chuyên ngành đào tạo và lĩnh vực nghiên cứu.
3. Trường hợp cần thiết, nếu chương trình đào tạo trình độ đại học của nghiên cứu sinh còn thiếu những môn học, học phần có vai trò quan trọng cho việc đào tạo trình độ tiến sĩ, Giám đốc Học viện có thể yêu cầu nghiên cứu sinh học bổ sung một số học phần ở trình độ đại học.
4. Các học phần quy định tại khoản 2, 3 Điều này, Giám đốc Học viện quyết định khối lượng tín chỉ cần học bổ sung theo đề nghị của viện chuyên ngành.
Điều 19. Các học phần ở trình độ tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan
1. Các học phần ở trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh cập nhật các kiến thức mới trong lĩnh vực chuyên môn; nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp luận nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng, thiết yếu của lĩnh vực nghiên cứu. Mỗi học phần được thiết kế với khối lượng từ 2 đến 3 tín chỉ. Mỗi nghiên cứu sinh phải hoàn thành từ 3 đến 5 học phần với khối lượng từ 8 đến12 tín chỉ thuộc trình độ tiến sĩ.
2. Các học phần ở trình độ tiến sĩ bao gồm các học phần bắt buộc và các học phần lựa chọn, trong đó các học phần bắt buộc là những học phần căn bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành. Các học phần lựa chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, cách viết bài báo khoa học.
3. Các chuyên đề tiến sĩ đòi hỏi nghiên cứu sinh tự cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài của nghiên cứu sinh, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, giúp nghiên cứu sinh giải quyết một số nội dung của đề tài luận án. Mỗi nghiên cứu sinh phải hoàn thành từ 2 đến 3 chuyên đề tiến sĩ với khối lượng từ 4 đến 6 tín chỉ, tuỳ chuyên ngành đào tạo.
4. Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết.
5. Giám đốc Học viện quyết định và công bố công khai trước khi khai giảng khoá đào tạo các nội dung: danh mục, mục tiêu, yêu cầu, nội dung các học phần ở trình độ tiến sĩ và các chuyên đề tiến sĩ của từng chuyên ngành đào tạo; cách đánh giá, yêu cầu điểm tối thiểu cho mỗi học phần mà nghiên cứu sinh cần đạt; cách báo cáo, cách đánh giá các báo cáo chuyên đề và đánh giá tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh.
Điều 20. Nghiên cứu khoa học
1. Nghiên cứu khoa học là giai đoạn đặc thù, mang tính bắt buộc trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án tiến sĩ. Trong thời gian thực hiện luận án, nghiên cứu sinh phải tham gia các sinh hoạt khoa học tại viện chuyên ngành và các sinh hoạt khoa học, hội thảo khoa học do viện chuyên ngành tổ chức. Khuyến khích nghiên cứu sinh tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn và các đề tài khoa học khác của viện chuyên ngành, Học viện có liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh. Khuyến khích nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
2. Nội dung, quy mô nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh phải phù hợp với mục tiêu của luận án tiến sĩ. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo về tính trung thực, chính xác, tính mới trong kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế.
3. Thời gian nghiên cứu khoa học được bố trí trong thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ. Nếu vì lý do khách quan hay chủ quan, việc nghiên cứu khoa học không thể hoàn thành trong thời gian dự kiến thì để đảm bảo chất lượng luận án nghiên cứu sinh được đăng ký kéo dài thời hạn nghiên cứu. Các chi phí đào tạo trong thời gian kéo dài do nghiên cứu sinh chi trả theo quy định tài chính của Học viện.
Điều 21. Luận án tiến sĩ
1. Luận án tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu độc lập, sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu; có đóng góp về mặt lý luận, chứa đựng những tri thức hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, tăng hàm lượng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu; giải quyết sáng tạo các vấn đề đang đặt ra của ngành khoa học nghiên cứu sinh được đào tạo hoặc thực tiễn xã hội.
2. Luận án tiến sĩ phải có khối lượng khoảng 100 đến 150 trang A4, trong đó trên 50% là trình bày các kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh.
Điều 22. Tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần và các chuyên đề tiến sĩ
1. Khi tiếp nhận nghiên cứu sinh, căn cứ văn bằng nghiên cứu sinh đã có, các học phần nghiên cứu sinh đã học ở trình độ đại học và thạc sĩ (nếu có), Hội đồng khoa học của các viện chuyên ngành đề xuất và Giám đốc Học viện phê duyệt các học phần bổ sung cần thiết. Các học phần ở trình độ tiến sĩ và các chuyên đề tiến sĩ phải phù hợp, thiết thực với quá trình đào tạo và thực hiện đề tài luận án của nghiên cứu sinh.
2. Đối với các học phần bổ sung ở trình độ đại học, Học viện sẽ gửi nghiên cứu sinh theo học cùng các lớp đào tạo trình độ tương ứng tại các trường đại học; hoặc phối hợp với các trường này để đào tạo, chi phí do học viên chịu trách nhiệm chi trả. Đối với các học phần ở trình độ tiến sĩ, Học viện tổ chức thực hiện.
3. Trong thời gian tối đa là 24 tháng kể từ khi trúng tuyển, Học viện sẽ tổ chức để nghiên cứu sinh hoàn thành phần 1 và phần 2 của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ theo khoản 4 Điều 17 Quy chế này.
4. Việc tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần và tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:
a) Khuyến khích và đòi hỏi chủ động tự học, tự nghiên cứu của nghiên cứu sinh;
b) Việc đánh giá các học phần ở trình độ tiến sĩ và các chuyên đề tiến sĩ cần thực hiện theo quy trình đánh giá khách quan, liên tục trong quá trình đào tạo.
5. Hội đồng khoa học các viện chuyên ngành xây dựng chương trình đào tạo, định kỳ hai năm một lần bổ sung, điều chỉnh danh mục và nội dung các học phần theo yêu cầu của ngành đào tạo và quy định của Học viện. Giám đốc Học viện phê duyệt chương trình này.
6. Các chuyên đề tiến sĩ được thực hiện bằng tự học và tự nghiên cứu của nghiên cứu sinh dưới sự giúp đỡ của người hướng dẫn nghiên cứu sinh. Việc đánh giá và chấm điểm chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng hình thức nghiên cứu sinh trình bày trước tiểu ban chấm chuyên đề trong một buổi sinh hoạt khoa học của bộ môn, thành phần tiểu ban chấm chuyên đề do Viện trưởng viện chuyên ngành ra quyết định thành lập.
7. Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ, đã học xong chương trình đào tạo thạc sĩ tại Học viện, đáp ứng đủ yêu cầu đào tạo thạc sĩ theo Quy chế đào tạo thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Học viện, tuỳ trường hợp cụ thể Giám đốc Học viện sẽ xem xét cấp bằng thạc sĩ nếu không được tiếp tục làm nghiên cứu sinh.
Điều 23. Yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án cấp cơ sở
1. Trước khi bảo vệ luận án cấp cơ sở, nghiên cứu sinh phải có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ tại nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ ở trong nước mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh không qua phiên dịch;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành tiếng Anh;
d) Có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT 61 điểm hoặc TOEFL ITP (nội bộ) 500 điểm hoặc IELTS 5.0 trở lên hoặc tương đương. Trình độ ngoại ngữ tương đương được xác định theo chuẩn B1, B2 của Khung Châu Âu Chung (Common European Framework - CEF).
2. Chứng chỉ ngoại ngữ của những trung tâm khảo thí ngoại ngữ trong nước có kết quả đánh giá năng lực người học tương đương với kết quả đánh giá của các trung tâm khảo thí ngoại ngữ quốc tế có thẩm quyền theo các loại bài kiểm tra cấp chứng chỉ nêu tại điểm d khoản 1 Điều này, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận có giá trị sử dụng trong đào tạo nghiên cứu sinh.
3. Đối với nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải có trình độ tiếng Anh tương đương bằng C trở lên.
4. Chứng chỉ ngoại ngữ dùng trong đào tạo nghiên cứu sinh có giá trị trong 3 năm kể từ ngày cấp (tròn 36 tháng).
Điều 24. Những thay đổi trong quá trình đào tạo
1. Việc thay đổi đề tài luận án chỉ thực hiện trong nửa đầu thời gian đào tạo.
2. Việc bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn thực hiện chậm nhất một năm trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án.
3. Khi có lý do chính đáng, nghiên cứu sinh có thể xin chuyển cơ sở đào tạo với điều kiện thời gian học tập theo quy định còn ít nhất là một năm, được người hướng dẫn khoa học và Giám đốc Học viện đồng ý, được cơ sở chuyển đến tiếp nhận và ra quyết định công nhận là nghiên cứu sinh của cơ sở chuyển đến. Giám đốc Học viện ký các quyết định để nghiên cứu sinh làm thủ tục chuyển.
4. Nghiên cứu sinh được xác định là hoàn thành chương trình đào tạo đúng hạn nếu trong thời hạn quy định, luận án đã được thông qua ở Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở.
5. Nếu nghiên cứu sinh không có khả năng hoàn thành chương trình đào tạo đúng thời hạn quy định (36 tháng hoặc 48 tháng) thì có thể gia hạn. Chậm nhất 6 tháng trước khi hết hạn nghiên cứu sinh phải làm đơn xin phép gia hạn học tập, có ý kiến của người hướng dẫn và của đơn vị cử đi học. Việc gia hạn chỉ giải quyết khi có lý do chính đáng với các điều kiện đảm bảo trong phạm vi thời gian gia hạn nghiên cứu sinh hoàn thành được nhiệm vụ học tập, nghiên cứu. Trong trường hợp cần thiết, Giám đốc Học viện sẽ căn cứ vào quy định về gia hạn đối với nghiên cứu sinh và căn cứ vào tiến triển của luận án cũng như tinh thần, thái độ của nghiên cứu sinh trong quá trình học tập để có cho phép nghiên cứu sinh gia hạn hay không. Thời gian gia hạn không quá 24 tháng. Đối với nghiên cứu sinh không tập trung, khi được gia hạn phải làm việc tập trung tại Học viện để hoàn thành luận án trong thời gian được gia hạn. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính phát sinh khi gia hạn theo thông báo của Học viện.
6. Khi nghiên cứu sinh hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo và đề tài nghiên cứu thể hiện ở kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước hoặc nước ngoài có uy tín, nghiên cứu sinh có thể đề nghị được bảo vệ luận án sớm. Căn cứ kết quả học tập và nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, đề nghị của người hướng dẫn, đề nghị của thủ trưởng đơn vị công tác và ý kiến đánh giá, đề nghị của Hội đồng khoa học các viện chuyên ngành, Giám đốc Học viện xem xét và quyết định việc bảo vệ sớm của nghiên cứu sinh.
7. Khi nghiên cứu sinh hết thời gian đào tạo (kể cả thời gian gia hạn nếu có) hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo (kể cả khi nghiên cứu sinh bảo vệ sớm trước thời hạn), Giám đốc Học viện có văn bản thông báo cho đơn vị cử nghiên cứu sinh đi học biết và có đánh giá về kết quả nghiên cứu, thái độ của nghiên cứu sinh trong quá trình học tập tại Học viện.
8. Sau khi hết thời gian đào tạo, nếu chưa hoàn thành luận án, nghiên cứu sinh vẫn có thể tiếp tục thực hiện đề tài luận án và trở lại Học viện để bảo vệ với các điều kiện sau: đề tài luận án và các kết quả nghiên cứu vẫn đảm bảo tính thời sự, giá trị khoa học; được người hướng dẫn, Giám đốc Học viện đồng ý. Thời gian tối đa cho phép trình luận án để bảo vệ là 7 năm (84 tháng) kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Quá thời gian này, nghiên cứu sinh không được bảo vệ luận án và các kết quả học tập thuộc chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ không được bảo lưu. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện.
Điều 25. Giảng viên giảng dạy chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ
Giảng viên giảng dạy chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ phải có các tiêu chuẩn sau đây:
1. Có phẩm chất đạo đức và tư cách tốt.
2. Có bằng tiến sĩ, tiến sĩ khoa học hoặc chức danh khoa học phó giáo sư, giáo sư đúng chuyên ngành hoặc phù hợp với học phần sẽ đảm nhiệm trong chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ.
3. Có năng lực chuyên môn tốt và hiện đang hoạt động nghiên cứu khoa học, thể hiện ở các bài báo, công trình được công bố trước và trong thời gian tham gia giảng dạy chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ.
Điều 26. Người hướng dẫn nghiên cứu sinh
1. Người hướng dẫn nghiên cứu sinh phải có các tiêu chuẩn sau:
a) Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ đúng chuyên ngành sau khi nhận bằng tròn 3 năm;
b) Có các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học công bố trong 5 năm trở lại đây;
c) Có tên trong thông báo của Học viện về danh mục các đề tài, hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu dự định nhận nghiên cứu sinh vào năm tuyển sinh;
d) Có khả năng đặt vấn đề và hướng dẫn nghiên cứu sinh giải quyết vấn đề khoa học đã đặt ra;
đ) Có trách nhiệm cao để thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn nghiên cứu sinh;
e) Sử dụng tốt tiếng Anh để phục vụ nghiên cứu chuyên ngành và trao đổi khoa học quốc tế;
g) Hiện không trong thời gian phải tạm dừng nhận nghiên cứu sinh mới theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
2. Mỗi nghiên cứu sinh có không quá hai người cùng hướng dẫn. Trường hợp có hai người hướng dẫn thì: một người là hướng dẫn chính chịu trách nhiệm chủ trì và chỉ đạo hướng dẫn nghiên cứu sinh hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định; một người hướng dẫn phụ có trách nhiệm tham gia hoạt động cùng nghiên cứu sinh do người hướng dẫn chính phân công.
3. Giáo sư, tiến sĩ; phó giáo sư, tiến sĩ khoa học có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, có nhiều kinh nghiệm trong hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể độc lập hướng dẫn nghiên cứu sinh. Nếu là tiến sĩ phải có 02 người hướng dẫn nghiên cứu sinh.
4. Giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn cùng thời gian không quá 5 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ được hướng dẫn cùng lúc không quá 3 nghiên cứu sinh ở tất cả các cơ sở đào tạo mà người đó được mời hướng dẫn, kể cả đồng hướng dẫn và kể cả nghiên cứu sinh đã hết hạn đào tạo nhưng còn trong thời gian được phép quay lại cơ sở đào tạo xin bảo vệ luận án theo quy định của quy chế này. Mỗi người hướng dẫn có không quá 2 nghiên cứu sinh trong cùng một khóa.
5. Người hướng dẫn có hai nghiên cứu sinh không hoàn thành luận án vì lý do chuyên môn thì sẽ tạm thời không được nhận thêm nghiên cứu sinh. Khi có đến ba nghiên cứu sinh không hoàn thành luận án mà không có lý do chính đáng, người hướng dẫn này sẽ không được nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh tại Học viện trong thời gian ít nhất là 2 năm.
6. Học viện tạo điều kiện để các nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Khoản 1 Điều này tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh.
Điều 27. Nhiệm vụ của người hướng dẫn nghiên cứu sinh
1. Duyệt kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh.
2. Giúp nghiên cứu sinh xác định đề cương nghiên cứu đề tài luận án của nghiên cứu sinh.
3. Xác định và đề nghị các học phần cần thiết trong chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ (bao gồm các học phần ở trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ cho nghiên cứu sinh) để báo cáo viện chuyên ngành và Vụ Quản lý đào tạo trình Giám đốc Học viện quyết định.
4. Lên kế hoạch tuần, tháng, quý, năm làm việc với nghiên cứu sinh. Tổ chức, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học, duyệt và giúp nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu.
5. Giúp đỡ nghiên cứu sinh chuẩn bị báo cáo chuyên đề theo lịch trình của Học viện; giúp đỡ nghiên cứu sinh nghiên cứu khoa học, tham gia giảng dạy.
6. Có nhận xét về tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ đạt được của nghiên cứu sinh trong các báo cáo định kỳ của nghiên cứu sinh gửi các viện chuyên ngành.
7. Duyệt luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả đã đạt được và đề nghị cho nghiên cứu sinh bảo vệ, nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định.
8. Các nhiệm vụ khác theo quy định của Học viện.
Điều 28. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh
1. Trong quá trình đào tạo, nghiên cứu sinh là thành viên chính thức của viện chuyên ngành, có trách nhiệm báo cáo kế hoạch để thực hiện chương trình học tập, nghiên cứu và đề cương nghiên cứu với viện chuyên ngành.
2. Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh phải thường xuyên gặp gỡ xin ý kiến và trao đổi chuyên môn với người hướng dẫn theo kế hoạch và lịch đã định; tham gia đầy đủ và có báo cáo chuyên đề tại các buổi sinh hoạt khoa học của phòng, ban chuyên môn và của viện chuyên ngành; tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học của viện chuyên ngành, phòng, ban chuyên môn và của người hướng dẫn khoa học ở nội dung có liên quan đến đề tài luận án và khi được các chủ nhiệm đề tài đề nghị; tham gia các sinh hoạt khoa học có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của mình ở trong và ngoài Học viện; báo cáo kế hoạch học tập, nghiên cứu với các viện chuyên ngành; thường xuyên gặp gỡ xin ý kiến và trao đổi chuyên môn với người hướng dẫn theo kế hoạch và lịch đã định, ít nhất 4 lần trong một năm.
3. Trong quá trình học tập, nghiên cứu sinh phải dành thời gian tham gia vào các hoạt động chuyên môn, trợ giảng, nghiên cứu khoa học tại viện chuyên ngành theo sự phân công của lãnh đạo viện.
4. Vào đầu mỗi năm học, nghiên cứu sinh phải báo cáo kết quả học tập và tiến độ nghiên cứu của mình bao gồm: những học phần đã hoàn thành; kết quả nghiên cứu, tình hình công bố kết quả nghiên cứu; kế hoạch học tập, nghiên cứu của mình trong năm học mới để Học viện xem xét đánh giá.
5. Trong thời gian bảo vệ luận án, nghiên cứu sinh không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập; không được liên hệ hoặc gặp gỡ với các thành viên Hội đồng cấp cơ sở hoặc cấp Học viện trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án như đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng; không được tiếp xúc để lấy các bản nhận xét luận án của các thành viên Hội đồng, các nhà khoa học, các tổ chức khoa học.
Điều 29. Trách nhiệm của các viện chuyên ngành
1. Viện trưởng viện chuyên ngành phải có kế hoạch quản lý và phân công nghiên cứu sinh về sinh hoạt chuyên môn tại các phòng, ban của viện.
2. Tổ chức Hội đồng khoa học của viện góp ý đề cương luận án của nghiên cứu sinh.
3. Xem xét và thông qua Hội đồng khoa học của viện trước khi trình Giám đốc Học viện quyết định các học phần cần thiết trong chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ bao gồm: các học phần ở trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ; kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; giám sát và kiểm tra việc thực hiện chương trình và kế hoạch đào tạo của nghiên cứu sinh đó.
4. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ cho giảng viên và nghiên cứu sinh, ít nhất 6 tháng một lần, để nghiên cứu sinh báo cáo chuyên đề và kết quả nghiên cứu; phân công hướng dẫn nghiên cứu sinh nghiên cứu khoa học.
5. Quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn; lịch của đơn vị chuyên môn nghe nghiên cứu sinh báo cáo kết quả học tập, nghiên cứu trong năm học, đảm bảo ít nhất 4 lần một năm. Tổ chức xem xét, đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu; tinh thần, thái độ học tập, nghiên cứu; khả năng và triển vọng của nghiên cứu sinh, phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo trình Giám đốc Học viện ra quyết định việc tiếp tục học tập đối với từng nghiên cứu sinh.
6. Chủ trì, phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo đề xuất với Giám đốc Học viện danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành có phản biện độc lập mà nghiên cứu sinh phải gửi công bố kết quả nghiên cứu của mình phù hợp với Khoản 7 Điều 31 của Quy chế này; hướng dẫn, liên hệ và hỗ trợ nghiên cứu sinh gửi công bố kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước.
7. Phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo đề nghị Giám đốc Học viện quyết định việc thay đổi tên đề tài luận án; về việc bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn; về việc rút ngắn hoặc kéo dài thời gian đào tạo, chuyển cơ sở đào tạo của nghiên cứu sinh.
8. Có các biện pháp quản lý và thực hiện quản lý chặt chẽ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo, định kỳ 6 tháng một lần báo cáo Giám đốc Học viện về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.
9. Chủ trì, phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo tổ chức đánh giá luận án của nghiên cứu sinh cấp cơ sở:
a) Dự kiến Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở gửi Giám đốc Học viện qua Vụ Quản lý đào tạo, số lượng 09 thành viên để Giám đốc Học viện lựa chọn quyết định.
b) Đưa tài liệu (Quyết định Hội đồng, luận án và các tài liệu khác), liên hệ với các thành viên Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở để tổ chức các buổi họp đánh giá luận án của nghiên cứu sinh.
c) Xem xét thông qua hoặc hoãn lại việc đề nghị cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp Học viện.
10. Dự kiến Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện qua Vụ Quản lý đào tạo, số lượng 15 thành viên để Giám đốc Học viện quyết định 07 thành viên Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện.
11. Phối hợp với vụ Quản lý đào tạo trong việc đưa tin liên quan đến quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh theo Quy chế này trên webste của Học viện và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 30. Trách nhiệm của Vụ Quản lý đào tạo
1. Xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Học viện theo từng chuyên ngành đào tạo trình Giám đốc Học viện phê duyệt và báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Phối hợp với các viện chuyên ngành, xây dựng và trình Giám đốc Học viện phê duyệt: chương trình đào tạo, giáo trình, kế hoạch giảng dạy đối với các chuyên ngành được phép đào tạo; danh mục các tạp chí khoa học uy tín, có phản biện độc lập mà nghiên cứu sinh phải gửi công bố kết quả nghiên cứu theo từng chuyên ngành đào tạo và hướng dẫn nghiên cứu sinh thủ tục, quy trình gửi bài cho các tạp chí trong nước và tạp chí nước ngoài.
3. Xây dựng và trình Giám đốc Học viện kế hoạch tổ chức tuyển sinh hàng năm theo chỉ tiêu đã được xác định và theo đúng quy định.
4. Chuẩn bị các quyết định để Giám đốc Học viện ký ban hành: công nhận nghiên cứu sinh, đề tài nghiên cứu, người hướng dẫn và thời gian đào tạo của nghiên cứu sinh; các quyết định xử lý những thay đổi trong quá trình đào tạo nghiên cứu sinh (như thay đổi đề tài, người hướng dẫn, thời gian đào tạo, hình thức đào tạo, chuyên ngành đào tạo hay chuyển cơ sở đào tạo…).
5. Phối hợp với viện chuyên ngành, tổ chức đào tạo theo chương trình đào tạo đã được Giám đốc Học viện phê duyệt. Tạo điều kiện để nghiên cứu sinh được đi thực tập, tham gia hội nghị khoa học quốc tế ở nước ngoài.
6. Phối hợp với Trung tâm Thông tin khoa học và các đơn vị liên quan cung cấp tư liệu và các điều kiện cần thiết khác đảm bảo cho việc học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh như đối với cán bộ của Học viện.
7. Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Học viện trong việc mời hai chuyên gia phản biện độc lập luận án của nghiên cứu sinh.
8. Tổ chức cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo Quy chế này và Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đảm bảo đủ nhân lực có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tốt để thực hiện các nhiệm vụ phục vụ việc bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh:
a) Tư vấn cho Giám đốc Học viện trong việc thành lập Hội đồng bảo vệ luận án cấp Học viện;
b) Chuẩn bị quyết định, trình Giám đốc Học viện ban hành quyết định thành lập Hội đồng bảo vệ luận án cấp Học viện;
c) Đưa quyết định thành lập Hội đồng, luận án, các tài liệu liên quan và liên hệ Hội đồng bảo vệ luận án để tổ chức bảo vệ luận án cấp Học viện.
9. Phối hợp với các viện chuyên ngành quản lý quá trình đào tạo, học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; quản lý việc thi và cấp chứng chỉ các học phần, bảng điểm học tập; cấp giấy chứng nhận cho nghiên cứu sinh đã hoàn thành chương trình đào tạo, đã bảo vệ luận án tiến sĩ trong thời gian thẩm định luận án.
10. Tham mưu, giúp việc Giám đốc Học viện trong hoạt động cấp bằng tiến sĩ và quản lý việc cấp bằng tiến sĩ theo quy định hiện hành.
11. Xây dựng kế hoạch trình Giám đốc Học viện đề nghị tổ chức các hội nghị, hội thảo thường niên về đào tạo tiến sĩ.
12. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan trong Học viện tổ chức công bố công khai, cập nhật và duy trì trên Website của Học viện (http://www.hcma.vn): toàn văn luận án, tóm tắt luận án, những điểm mới của luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) từ khi chuẩn bị bảo vệ; thông báo tuyển sinh, danh sách nghiên cứu sinh hàng năm; các đề tài nghiên cứu đang thực hiện; danh sách nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ; các hoạt động về đào tạo tiến sĩ của Học viện.
13. Các tài liệu, hồ sơ của mỗi nghiên cứu sinh, của Học viện liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, xét tốt nghiệp và cấp bằng tiến sĩ phải được bảo quản tại Vụ Quản lý đào tạo và được chuyển đến bộ phận lưu trữ của Học viện theo quy định hiện hành về công tác lưu trữ.
14. Chuẩn bị báo cáo và các tài liệu liên quan trình Giám đốc Học viện phê duyệt để báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm:
a) Sau kỳ tuyển sinh, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình và kết quả tuyển sinh, các quyết định công nhận nghiên cứu sinh trúng tuyển;
b) Tháng 10 hàng năm, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác đào tạo tiến sĩ của Học viện, những thay đổi về nghiên cứu sinh trong năm, xác định chỉ tiêu và kế hoạch tuyển sinh;
c) Vào ngày cuối cùng của các tháng chẵn, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo danh sách trích ngang nghiên cứu sinh bảo vệ trong hai tháng vừa qua;
d) Trước ngày 30-6 và 31-12 hàng năm, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình cấp bằng tiến sĩ của Học viện. Hồ sơ báo cáo gồm:
- Báo cáo tổng quan tình hình cấp bằng tiến sĩ của cơ sở đào tạo trong thời gian từ sau lần báo cáo trước.
- Danh sách nghiên cứu sinh được cấp bằng.
- Bản sao quyết định cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh đã hoàn thành chương trình đào tạo và bảo vệ luận án đạt yêu cầu quy định.
- Bản sao quyết định công nhận nghiên cứu sinh có tên trong danh sách cấp bằng.
Chương 4
LUẬN ÁN VÀ BẢO VỆ LUẬN ÁN
Điều 31. Yêu cầu đối với luận án tiến sĩ
1. Luận án tiến sĩ phải do nghiên cứu sinh thực hiện và đáp ứng được những mục tiêu và yêu cầu quy định trong Quy chế này và Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luận án phải có những đóng góp mới về mặt học thuật, được trình bày bằng ngôn ngữ khoa học, vận dụng những lý luận cơ bản của ngành khoa học để phân tích, bình luận các luận điểm và kết quả đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài luận án. Trên cơ sở đó đặt ra vấn đề mới, giả thuyết mới có ý nghĩa và chứng minh được bằng những tư liệu mới. Tác giả luận án phải có cam đoan danh dự về công trình khoa học của mình.
2. Nội dung luận án tiến sĩ gồm có: mở đầu (lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cái mới của luận án, ý nghĩa lý luận và thực tiễn và cấu trúc của luận án); nội dung: tổng quan tình hình nghiên cứu và các chương, các tiết; kết luận và kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo; danh mục các công trình đã công bố của nghiên cứu sinh có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục (nếu cần).
3. Luận án tiến sĩ phải đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.
4. Nếu luận án là công trình khoa học hoặc một phần công trình khoa học của một tập thể trong đó tác giả đóng góp phần chính thì phải xuất trình với viện chuyên ngành và Vụ Quản lý đào tạo các văn bản của các thành viên trong tập thể đó đồng ý cho phép nghiên cứu sinh sử dụng công trình này trong luận án để bảo vệ lấy bằng tiến sĩ.
5. Việc sử dụng hoặc trích dẫn kết quả nghiên cứu của người khác, của đồng tác giả phải được dẫn nguồn đầy đủ và rõ ràng. Nếu sử dụng tài liệu của người khác (trích dẫn bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì luận án không được duyệt để bảo vệ.
6. Danh mục công trình đã công bố của nghiên cứu sinh có liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo được trình bày theo thứ tự bảng chữ cái họ tên tác giả theo thông lệ quốc tế. Tài liệu tham khảo bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập trong luận án.
7. Nội dung chủ yếu và các kết quả nghiên cứu của luận phải án phải đã được công bố ít nhất trong hai bài báo trên tạp chí khoa học chuyên ngành. Các tạp chí khoa học trong nước thuộc nhóm tạp chí chuyên ngành được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước đánh giá điểm công trình đến 1 điểm, đồng thời thuộc danh mục các tạp chí khoa học mà Học viện quy định cho mỗi chuyên ngành đào tạo. Khuyến khích nghiên cứu sinh đăng bài trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, hoặc các kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc tế .
8. Luận án phải được trình bày khoa học, rõ ràng, mạch lạc, không tẩy xoá và tuân thủ theo quy định về quy cách trình bày luận án.
9. Về bố cục của luận án
Số chương của mỗi luận án tuỳ thuộc vào từng chuyên ngành và đề tài cụ thể, nhưng thông thường bao gồm những phần và chương sau đây:
- Mở đầu: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
- Tổng quan: phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án; nêu những vấn đề còn tồn tại; chỉ ra những vấn đề mà đề tài luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết.
- Những nghiên cứu thực nghiệm hoặc lý thuyết: trình bày cơ sở lý thuyết, lý luận, giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong luận án.
- Trình bày, đánh giá các kết quả: mô tả công việc nghiên cứu khoa học đã tiến hành, các số liệu nghiên cứu khoa học đã tiến hành, các số liệu nghiên cứu khoa học hoặc số liệu thực nghiên cứu, khảo sát thực tế. Phần bàn luận phải căn cứ vào các dẫn liệu khoa học thu được trong quá trình nghiên cứu của đề tài luận án hoặc đối chiếu với kết quả nghiên cứu các tác giả khác thông qua các tài liệu tham khảo.
- Kết luận: trình bày những kết quả mới của luận án một cách ngắn gọn, không bình luận thêm.
- Kiến nghị của luận án.
- Danh mục công trình công bố của tác giả: liệt kê các bài báo, công trình đã công bố của tác giả về nội dung của đề tài, luận án, theo trình tự thời gian công bố.
- Danh mục tài liệu tham khảo: chỉ bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập tới để bàn luận trong luận án.
- Phụ lục.
10. Về trình bày
Luận án phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, không được tẩy xóa, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị. Tác giả luận án phải có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này. Luận án đóng bìa cứng, in chữ nhũ đủ dấu tiếng Việt.
a) Soạn thảo văn bản
Luận án sử dụng phông chữ VnTime hoặc Times New Roman cỡ 13 hoặc 14 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1,5 lines; lề trên 3,5cm; lề dưới 3,0cm; lề trái 3,5cm; lề phải 2cm. Số trang được đánh ở giữa, phía trên đầu mỗi trang giấy. Nếu có bảng biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang, nhưng nên hạn chế trình bày theo cách này.
Luận án được in trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210 x 297mm), dày khoảng 100 đến 150 trang.
b) Tiểu mục
Các tiểu mục của luận án được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm 4 chữ số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ 2.1.2.1 chỉ tiểu mục 1, nhóm tiểu mục 2, mục 1, chương 2). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo.
c) Bảng biểu, hình vẽ
Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ phải gắn với số chương; ví dụ: hình 2.1 có nghĩa là hình thứ nhất trong Chương 2. Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ. Nguồn phải được liệt kê chính xác trong danh mục Tài liệu tham khảo. Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ ghi dưới hình. Thông thường, những bảng ngắn và đồ thị phải đi liền với phần nội dung đề cập tới các bảng và đồ thị này ở lần thứ nhất. Các bảng dài có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp theo ngay phần nội dung đề cập tới bảng này ở lần đầu tiên.
Các bảng rộng vẫn nên trình bày theo chiều đứng dài 297mm của trang giấy, chiều rộng của trang giấy có thể hơn 210mm.
Trong luận án, các hình vẽ phải được vẽ sạch sẽ để có thể sao chụp lại; có đánh số và ghi đầy đủ đầu đề; cỡ chữ ở các bảng biểu không được nhỏ hơn cỡ 12. Khi đề cập đến các bảng biểu và hình vẽ phải nêu rõ số của hình và bảng biểu đó, ví dụ: “… được nêu trong Bảng 2.1” hoặc “xem hình 3.1” mà không được viết “… được nêu trong bảng dưới đây”.
d) Viết tắt
Không lạm dụng việc viết tắt trong luận án. Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dụng nhiều lần trong luận án. Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề; không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện trong luận án. Nếu cần viết tắt những từ, thuật ngữ, tên các cơ quan, tổ chức… thì được viết tắt sau lần viết thứ nhất có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu luận án có nhiều chữ viết tắt thì phải có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu luận án.
đ) Tài liệu tham khảo và cách trích dẫn
Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tính chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận án. Phải nêu rõ cả việc sử dụng những đề xuất hoặc kết quả của đồng tác giả. Nếu sử dụng tài liệu của người khác và của đồng tác giả (bảng biểu, hình vẽ, công thức, đồ thị, ý tưởng …) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì luận án không được duyệt để bảo vệ.
Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết cũng như không làm luận án nặng nề với những tham khảo trích dẫn. Việc trích dẫn, tham khảo chủ yếu nhằm thừa nhận nguồn của những ý tưởng có giá trị và giúp người đọc theo được mạch suy nghĩ của tác giả, không làm trở ngại việc đọc.
Nếu không có điều kiện tiếp cận được một tài liệu gốc mà phải trích dẫn thông qua một tài liệu khác thì phải nêu rõ cách trích dẫn này, đồng thời tài liệu gốc đó không được liệt kê trong danh mục Tài liệu tham khảo của luận án.
Khi cần trích dẫn một đoạn ít hơn hai câu hoặc 4 dòng đánh máy thì có thể sử dụng dấu ngoặc kép để mở đầu và kết thúc phần trích dẫn. Nếu câu trích dẫn dài hơn thì phải tách phần này thành một đoạn riêng khỏi phần nội dung đang trình bày, với lề trái lùi vào thêm 2cm. Khi này mở đầu và kết thúc đoạn trích này không phải sử dụng dấu ngoặc kép.
Việc trích dẫn là theo số thứ tự của tài liệu ở danh mục Tài liệu tham khảo và đặt trong dấu ngoặc vuông, khi cần có cả số trang, ví dụ: [15, tr. 10-11]. Đối với phần được trích dẫn từ nhiều tài liệu khác nhau, số của từng tài liệu được đặt độc lập trong từng ngoặc vuông, theo thứ tự tăng dần, ví dụ: [10], [25], [30].
e) Phụ lục của luận án
Phần này bao gồm những nội dung cần thiết nhằm minh hoạ hoặc bổ trợ cho nội dung luận án sử dụng những câu trả lời cho một bản câu hỏi thì câu hỏi này phải được đưa vào phần Phụ lục ở dạng nguyên bản đã dùng để điều tra, thăm dò ý kiến; không được tóm tắt hoặc sửa đổi. Phụ lục không được dầy hơn 50 trang.
g) Tóm tắt luận án
Tóm tắt luận án phải in chụp với số lượng 40 đến 50 bản, kích thước 140x210mm (khổ A4 gập đôi). Tóm tắt luận án phải được trình bày rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, không được tẩy xoá. Số của bảng biểu, hình vẽ, đồ thị phải có cùng số như trong luận án.
Tóm tắt luận án được trình bày nhiều nhất trong 24 trang in trên hai mặt giấy, cỡ chữ VnTime 11 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương. Mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ. Chế độ dãn dòng là Exactly 17 pt. Lề trên, lề dưới, lề trái, lề phải đều là 2 cm. Các bảng biểu trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang. Tóm tắt luận án phải phản ánh trung thực kết cấu, bố cục và nội dung của luận án, phải ghi đầy đủ toàn văn kết luận của luận án.
Cuối bản tóm tắt luận án là danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án với đầy đủ thông tin về tên tác giả, tên bài báo, tên tạp chí, tập, số, số trang của bài báo trên tạp chí năm xuất bản. Danh mục này có thể in trên trang bìa của 3 bản tóm tắt luận án.
11. Về số lượng và quy cách của luận án, tóm tắt luận án
Tại từng thời điểm của quá trình đánh giá luận án, nghiên cứu sinh cần chuẩn bị luận án và tóm tắt luận án như gợi ý ở bảng 11.1:
Bảng 11.1 Số lượng, quy cách của luận án và tóm tắt luận án cần chuẩn bị tại từng thời điểm xét duyệt
|
Thời điểm |
Số bản in |
Nơi gửi |
Quy cách |
|
Luận án |
Tóm tắt |
|
1. Đánh giá ở Viện (cấp cơ sở) |
12 đến 15 |
12 đến 15 |
- Người hướng dẫn
- Viện chuyên ngành
- Vụ QLĐT
- Thành viên hội đồng
- Người tham dự |
- Theo quy định của quy chế này
- Luận án đóng bìa mềm |
|
2. Sau khi bảo vệ cấp cơ sở, nộp Vụ Quản lý đào tạo |
02 |
03 |
- Vụ Quản lý đào tạo Học viện để gửi phản biện độc lập |
Theo Quy chế |
|
3. Sau khi phản biện độc lập để thành lập và bảo vệ trước Hội đồng luận án cấp Học viện |
1 |
3 |
Vụ Quản lý đào tạo Học viện |
- Theo Quy chế
- Luận án đóng bìa cứng |
|
4. Sau khi có quyết định Hội đồng cấp Học viện |
12 đến 15 |
40 đến 50 |
- Như thời điểm 1
- Tóm tắt luận án gửi đi theo danh sách đã được Hội đồng đánh giá luận án ở Viện duyệt |
- Theo Quy chế
- Tên các phản biện đã được điền đầy đủ vào trang bìa 2 tóm tắt luận án
- Luận án đóng bìa cứng
- Đĩa CD chứa toàn văn luận án |
|
5. Sau bảo vệ cấp Học viện |
1
1
1
1 (3) |
1
1
1
1 (3)
|
- Viện chuyên ngành
- Thư viện quốc gia
- Trung tâm Thông tin khoa học thuộc Học viện
- Vụ Quản lý đào tạo- Học viện
- Vụ Giáo dục đại học-Bộ Giáo dục và Đào tạo (03 trong trường hợp cần thẩm định luận án) |
- Theo Quy chế
- Luận án đóng bìa cứng
- Đĩa CD chứa toàn văn luận án |
*Ghi chú: Những trường hợp phản biện đọc lập không đồng ý, NCS phải gửi luận án bổ sung để Vụ QLĐT chuyển phản biện độc lập khác xin ý kiến.
Điều 32. Đánh giá và bảo vệ luận án
1. Luận án tiến sĩ được tiến hành đánh giá qua hai cấp:
a) Cấp viện (cấp cơ sở);
b) Cấp Học viện.
2. Điều kiện để nghiên cứu sinh được đề nghị bảo vệ luận án:
a) Đã hoàn thành luận án và chương trình học tập theo quy định tại các Điều 17, 18, 19, 20, 21, và trình độ ngoại ngữ quy định tại Điều 23 của Quy chế này trong thời gian quy định;
b) Luận án đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Điều 21 và Điều 31 của Quy chế này;
c) Tập thể hoặc người hướng dẫn có văn bản khẳng định chất lượng luận án; nhận xét tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc của nghiên cứu sinh và đề nghị cho nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;
d) Nghiên cứu sinh hiện không bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.
Điều 33. Đánh giá luận án cấp viện (cấp cơ sở)
1. Sau khi nghiên cứu sinh đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 32 của Quy chế này, Viện trưởng viện chuyên ngành và Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo đề nghị Giám đốc Học viện ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp viện (sau đây gọi là cấp cơ sở).
2. Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở gồm 7 thành viên. Các thành viên phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ. Các thành viên phải am hiểu lĩnh vực đề tài nghiên cứu, trong đó có 5 thành viên là cán bộ khoa học của Học viện và hai nhà khoa học, chuyên gia ở ngoài Học viện.
3. Hội đồng gồm: Chủ tịch, Thư ký, hai phản biện và các uỷ viên Hội đồng. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.
4. Luận án phải gửi đến các thành viên của Hội đồng trước thời gian tổ chức họp Hội đồng đánh giá ít nhất là 15 ngày làm việc. Các thành viên Hội đồng phải đọc luận án và viết nhận xét trước khi dự phiên họp của Hội đồng đánh giá luận án. Bản nhận xét luận án cần nêu rõ:
- Ý nghĩa khoa học của đề tài, luận án.
- Sự hợp lý và độ tin cậy của các phương pháp nghiên cứu.
- Đánh giá các kết quả đạt được, nêu lên những đóng góp và giá trị của những đóng góp đó.
- Những ưu điểm và thiếu sót, những điểm cần bổ sung và sửa chữa.
- Nhận xét về chất lượng các bài báo khoa học đã được công bố của nghiên cứu sinh, khẳng định các bài báo đó chứa đựng nội dung chủ yếu của luận án.
- Kết luận của bản nhận xét phải khẳng định nội dung và hình thức của luận án có đáp ứng yêu cầu một luận án tiến sĩ theo Quy chế này và có đủ điều kiện để bảo vệ trước Hội đồng cấp Học viện hay chưa.
5. Hội đồng không tổ chức họp đánh giá luận án nếu xảy ra một trong những trường hợp sau đây:
- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng;
- Vắng mặt Thư ký Hội đồng;
- Vắng mặt người phản biện có ý kiến không tán thành luận án;
- Vắng mặt từ hai thành viên Hội đồng trở lên;
- Nghiên cứu sinh đang bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.
6. Phiên họp đánh giá luận án cấp cơ sở phải là một buổi sinh hoạt khoa học của đơn vị chuyên môn, vì vậy cần được tổ chức để các thành viên đơn vị chuyên môn và những người quan tâm có thể tham dự. Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở có thể tổ chức từ một đến nhiều phiên họp nếu cần thiết.
7. Tiến hành buổi đánh giá luận án ở cấp cơ sở
a) Trình tự tiến hành buổi đánh giá luận án ở cấp cơ sở:
- Đại diện Vụ Quản lý đào tạo tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, đọc quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án ở cấp cơ sở của Giám đốc Học viện.
- Chủ tịch Hội đồng điều khiển buổi họp đánh giá luận án, công bố số lượng thành viên của Hội đồng và các điều kiện để được tiến hành đánh giá luận án ở cấp cơ sở theo quy định.
- Nghiên cứu sinh trình bày nội dung luận án, không đọc theo tóm tắt luận án hoặc theo văn bản đã chuẩn bị. Không hạn chế thời gian trình bày của nghiên cứu sinh.
- Hai phản biện đọc nhận xét.
- Các thành viên Hội đồng và những người tham dự đặt câu hỏi hoặc phát biểu ý kiến về những kết quả đạt được, những điểm mới của luận án, những vấn đề chưa giải quyết được, những điểm cần bổ sung hoặc sửa chữa.
- Nghiên cứu sinh trả lời các câu hỏi và các ý kiến trao đổi.
- Nếu không còn vấn đề tranh luận hoặc các vấn đề đã được làm rõ, Hội đồng họp riêng. Từng thành viên Hội đồng ghi rõ ý kiến nhận xét vào phiếu nhận xét và phải ghi rõ tán thành hay chưa tán thành để luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện. Dựa vào nhận xét của các thành viên, Hội đồng thảo luận để thông qua kết luận của Hội đồng.
- Chủ tịch Hội đồng công bố kết luận của Hội đồng. Kết luận của Hội đồng cần khẳng định:
+ Tên đề tài luận án có phù hợp với nội dung và mã số chuyên ngành, có trùng lắp về đề tài và nội dung với các luận án đã bảo vệ hoặc các công trình khoa học khác đã nghiệm thu hay không.
+ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
+ Những kết quả mới đã đạt được.
+ Những thiếu sót của luận án, vấn đề cần bổ sung, sửa chữa.
+ Mức độ đáp ứng yêu cầu của luận án tiến sĩ về cả nội dung và hình thức theo quy định.
+ Kết luận: đề nghị Học viện cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án ở cấp Học viện hay chưa.
8. Luận án chỉ được thông qua để đưa ra bảo vệ ở cấp Học viện sau khi đã được hoàn chỉnh trên cơ sở kết luận của Hội đồng và được từ ba phần tư số thành viên của Hội đồng có mặt tại phiên họp cuối cùng bỏ phiếu tán thành.
9. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở đề nghị cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp Học viện sau khi đã sửa chữa thì nghiên cứu sinh cần sửa chữa luận án của mình, có văn bản giải trình những điểm sửa chữa. Bản giải trình phải có chữ ký xác nhận đồng ý của người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng, hai người phản biện, những thành viên có ý kiến đề nghị sửa chữa và Viện trưởng viện chuyên ngành. Sau đó luận án mới được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng cấp Học viện.
10. Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở phải thông qua danh sách các đơn vị và cá nhân được gửi tóm tắt luận án của nghiên cứu sinh và trình Giám đốc Học viện quyết định, đảm bảo luận án được phổ biến rộng rãi đến tất cả các cơ quan, đơn vị, cá nhân có trình độ tiến sĩ trở lên, cùng ngành hoặc chuyên ngành, đã và đang nghiên cứu hoặc có thể ứng dụng những vấn đề trong luận án, trong đó số lượng cá nhân thuộc Học viện không quá một phần tư tổng số các cá nhân được gửi tóm tắt luận án.
11. Việc đánh giá luận án phải tập trung chủ yếu vào việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu, nội dung và chất lượng của luận án, đảm bảo sự chính xác, khách quan, khoa học, tranh thủ được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trong việc xem xét đánh giá luận án của nghiên cứu sinh.
Điều 34. Hồ sơ đề nghị cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp Học viện
1. Trên cơ sở ý kiến kết luận của Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở, Viện trưởng viện chuyên ngành phối hợp với Vụ Quản lý đào tạo lập hồ sơ gửi Giám đốc Học viện (qua vụ Quản lý đào tạo) đề nghị cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp Học viện.
2. Hồ sơ đề nghị bảo vệ luận án cấp Học viện của nghiên cứu sinh gồm:
a) Biên bản chi tiết nội dung thảo luận tại các phiên họp đánh giá luận án cấp cơ sở, có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng và Thư ký;
b) Bản giải trình các điểm đã bổ sung và sửa chữa của nghiên cứu sinh sau mỗi phiên họp của Hội đồng, có chữ ký xác nhận và đồng ý của Chủ tịch Hội đồng, hai người phản biện luận án, những thành viên có ý kiến đề nghị bổ sung sửa chữa và Viện trưởng viện chuyên ngành;
c) Hai bản nhận xét của hai người phản biện luận án;
d) Danh sách các đơn vị và cá nhân được gửi tóm tắt luận án;
đ) Bản sao hợp lệ bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ (nếu có);
e) Bản sao hợp lệ bảng điểm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ, các học phần bổ sung (nếu có), các học phần của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, điểm tiểu luận tổng quan và chứng chỉ ngoại ngữ của nghiên cứu sinh;
g) Bản sao quyết định công nhận nghiên cứu sinh và quyết định về những thay đổi trong quá trình đào tạo (nếu có);
h) Bản kê khai danh mục và sao chụp những bài báo, công trình công bố liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh;
i) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu có công trình đồng tác giả);
k) Luận án và tóm tắt luận án;
l) Trang thông tin về những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nội dung gồm: tên luận án; tên chuyên ngành và mã số; tên nghiên cứu sinh và khoá đào tạo; chức danh khoa học, học vị, tên người hướng dẫn; tên cơ sở đào tạo; những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận, những luận điểm mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án; chữ ký và họ tên của nghiên cứu sinh;
Vụ Quản lý đào tạo có trách nhiệm tổ chức thẩm định về nội dung, hình thức trang thông tin về những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án trước khi đưa thông tin lên website của Học viện và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
m) Lý lịch khoa học của nghiên cứu sinh, có xác nhận của cơ quan cử đi học;
n) Công văn của Viện chuyên ngành và giới thiệu danh sách Hội đồng chấm luận án cấp Học viện với số lượng 15 thành viên là những người có trình độ chuyên môn cao và chuyên sâu theo hướng đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Đối với người lần đầu tham gia Hội đồng chấm luận án cấp Học viện cần có lý lịch khoa học;
p) Các tài liệu khác (nếu cần);
3. Thời gian xử lý hồ sơ và xin ý kiến phản biện độc lập không ít hơn 8 tuần và không quá 16 tuần kể từ ngày Vụ Quản lý đào tạo nhận được hồ sơ hợp lệ và Giám đốc Học viện quyết định mời người phản biện độc lập.
Điều 35. Phản biện độc lập
1. Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ đề nghị thành lập Hội đồng chấm luận án cấp Học viện cho nghiên cứu sinh, trước khi thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, Học viện sẽ mời hai chuyên gia làm phản biện độc lập cho luận án. Phản biện độc lập là những nhà khoa học có trình độ chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có phẩm chất và đạo đức tốt, có uy tín khoa học cao, có chính kiến và bản lĩnh khoa học. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho Giám đốc Học viện trong việc xem xét cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp Học viện.
2. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của Học viện. Thông qua luận án và bài báo của nghiên cứu sinh, phản biện độc lập có thể biết tác giả luận án và người hướng dẫn, nhưng phản biện độc lập không được trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp với nghiên cứu sinh hoặc người hướng dẫn; các phản biện độc lập phải có trách nhiệm bảo mật nhiệm vụ, chức trách của mình, kể cả khi đã hoàn thành việc phản biện luận án hay khi tham gia vào Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện. Người hướng dẫn và nghiên cứu sinh không được tìm hiểu về phản biện độc lập.
3. Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Học viện trong việc mời hai chuyên gia phản biện độc lập luận án của nghiên cứu sinh. Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo trực tiếp hoặc tổ chức giao nhiệm vụ cho chuyên viên thuộc Vụ liên hệ với phản biện độc lập luận án. Việc đưa luận án và nhận nhận xét của các phản biện độc lập có thể trực tiếp hoặc qua đường bưu điện, công văn nhưng phải bảo mật theo quy định. Bản nhận xét của phản biện phải có chữ ký và họ tên của người phản biện.
Trong quá trình tiến hành phản biện độc lập luận án, Giám đốc Học viện có thể thay đổi người phản biện nếu thấy có dấu hiệu lộ danh tính của người phản biện và vấn đề khác có thể ảnh hưởng đến đánh giá khách quan của người phản biện.
4. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc kỹ luận án của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, sai của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án; tính trung thực, rõ ràng trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố, nhận định về chất lượng công trình và tạp chí đăng bài cho nghiên cứu sinh; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án. Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến đồng ý hay chưa đồng ý để luận án được bảo vệ cấp Học viện. Phản biện độc lập nhận xét theo mẫu do Học viện ban hành.
5. Khi cả hai phản biện độc lập tán thành luận án, Giám đốc Học viện ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện cho nghiên cứu sinh. Khi có một phản biện độc lập không tán thành luận án, Giám đốc Học viện gửi luận án xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba. Nếu phản biện độc lập thứ ba tán thành luận án thì luận án được đưa ra bảo vệ ở cấp Học viện.
6. Khi luận án được Giám đốc Học viện chấp thuận cho bảo vệ, toàn văn bản nhận xét (không có tên) của phản biện độc lập sẽ được Vụ Quản lý đào tạo sao gửi về cho viện chuyên ngành và nghiên cứu sinh nghiên cứu, tiếp thu sửa chữa hoặc bảo lưu quan điểm của mình, có văn bản giải trình và ý kiến của người hướng dẫn nộp cho Vụ Quản lý đào tạo. Trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được nhận xét của phản biện độc lập từ Vụ Quản lý đào tạo, nghiên cứu sinh phải hoàn chỉnh luận án nộp cho viện chuyên ngành, viện chuyên ngành gửi một bản luận án đóng bìa cứng, một bản tóm tắt và bản giải trình của nghiên cứu sinh, dự kiến hội đồng chấm luận án gửi đến Vụ Quản lý đào tạo để trình Giám đốc Học viện ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện.
7. Luận án bị trả về để đánh giá lại cấp cơ sở nếu cả hai phản biện độc lập đầu tiên không tán thành luận án, hoặc phản biện thứ ba không tán thành khi luận án phải lấy ý kiến của phản biện thứ ba. Trường hợp này, luận án phải được chỉnh sửa và tổ chức bảo vệ lại cấp cơ sở. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị bảo vệ lại cấp cơ sở sớm nhất sau 6 tháng và muộn nhất là 24 tháng kể từ ngày luận án bị trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải được lấy ý kiến của các phản biện độc lập lần đầu.
Điều 36. Đánh giá luận án cấp Học viện
1. Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện gồm 7 thành viên. Các thành viên phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ. Các thành viên phải là những nhà khoa học có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; có công trình liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh công bố thường xuyên trong ba năm tính đến khi tham gia Hội đồng đánh giá luận án. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư trong Hội đồng ít nhất là 4 người. Thành viên là tiến sĩ phải sau khi nhận Quyết định công nhận tiến sĩ đủ 3 năm. Số thành viên thuộc Học viện không quá 3 người.
2. Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 3 người phản biện và các uỷ viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư đúng chuyên ngành với luận án. Các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó. Người phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Các phản biện phải là người ở các đơn vị khác nhau, không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh, không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; không sinh hoạt trong cùng đơn vị chuyên môn với nghiên cứu sinh.
3. Người hướng dẫn nghiên cứu sinh; người có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh không tham gia Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện.
Điều 37. Yêu cầu, điều kiện tổ chức bảo vệ và đánh giá luận án cấp Học viện
1. Sau khi có quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, nghiên cứu sinh đóng quyển luận án, in tóm tắt luận án có ghi đầy đủ họ tên, học vị, nơi công tác của người phản biện vào bìa 2 tóm tắt luận án và nộp cho Vụ Quản lý đào tạo. Vụ Quản lý đào tạo có trách nhiệm tổ chức gửi luận án và tóm tắt luận án tới các phản biện và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, liên hệ với Chủ tịch Hội đồng và các thành viên trong Hội đồng thống nhất thời gian của buổi bảo vệ và gửi tóm tắt luận án theo danh sách đã được Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở thông qua.
2. Vụ trưởng Vụ Quản lý đào tạo có trách nhiệm bố trí đủ nhân lực thực hiện các công việc tổ chức bảo vệ luận án cho nghiên cứu sinh.
3. Điều kiện để được đăng báo về buổi bảo vệ luận án cấp Học viện:
a) Có đủ ba bản nhận xét của ba phản biện và các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng.
b) Có ít nhất 10 bản nhận xét tóm tắt luận án của những nhà khoa học có học vị tiến sĩ trở lên hoặc có chức danh khoa học từ các cơ quan khác nhau gửi đến cơ sở đào tạo.
c) Thời gian, địa điểm buổi bảo vệ luận án đã được các thành viên Hội đồng đồng ý.
d) Trường hợp có đơn khiếu nại về luận án hoặc về tác giả luận án trước khi đăng báo ngày bảo vệ thì Vụ Quản lý đào tạo phối hợp với các cơ quan liên quan để xác minh và có kết luận đầy đủ về những vấn đề nêu trong đơn. Căn cứ văn bản kết luận này để trình Giám đốc Học viện quyết định việc bảo vệ của nghiên cứu sinh trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện.
4. Điều kiện tổ chức cho nghiên cứu sinh bảo vệ và đánh giá luận án cấp Học viện:
a) Thời gian, địa điểm bảo vệ luận án, tên đề tài luận án của nghiên cứu sinh đã được công bố công khai, rộng rãi trên website của Học viện, website của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trên bảng tin của Học viện, trên báo Hà Nội mới hoặc báo Nhân dân, trước ngày bảo vệ ít nhất 10 ngày để những người quan tâm có thời gian tìm hiểu luận án và tham dự phiên bảo vệ (trừ các luận án bảo vệ mật);
b) Luận án, tóm tắt luận án đã được gửi đến các thành viên Hội đồng, các nhà khoa học, các tổ chức khoa học theo danh sách đã được Giám đốc Học viện quyết định và đã được trưng bày ở phòng đọc của Trung tâm Thông tin khoa học của Học viện ít nhất 30 ngày trước ngày bảo vệ;
c) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) và trang thông tin những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận, luận điểm mới về khoa học và thực tiễn của luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) đã được đăng tải công khai trên website của Học viện và website của Bộ Giáo dục và Đào tạo (gửi đến địa chỉ: duatin@moet.edu.vn) trước ngày bảo vệ 30 ngày;
d) Các thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án bằng văn bản gửi đến Vụ Quản lý đào tạo 15 ngày trước ngày bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh;
đ) Văn bản nhận xét luận án của các thành viên Hội đồng phải đánh giá đầy đủ, cụ thể về bố cục và hình thức của luận án; về nội dung; phương pháp; kết quả; ý nghĩa; độ tin cậy của các kết quả đạt được; trong đó phải nêu bật được những luận điểm mới của luận án.
5. Hội đồng không tổ chức họp để đánh giá luận án nếu xảy ra một trong những trường hợp sau đây:
a) Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng;
b) Vắng mặt Thư ký Hội đồng;
c) Vắng mặt người phản biện có ý kiến không tán thành luận án;
d) Vắng mặt từ hai thành viên hội đồng trở lên;
đ) Nghiên cứu sinh đang bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên;
e) Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều này.
6. Giám đốc Học viện quyết định về việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án trong trường hợp cần thiết và chỉ vì lý do bất khả kháng (như thành viên Hội đồng đi công tác nước ngoài dài hạn, ốm nặng không thể tham gia Hội đồng, hoặc khi có thành viên Hội đồng không đảm bảo các điều kiện yêu cầu quy định). Các thời hạn quy định, liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng và việc tổ chức bảo vệ luận án, được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng bảo vệ bảo vệ luận án cấp Học viện.
7. Trong thời hạn tối đa là 3 tháng kể từ khi có quyết định thành lập, Hội đồng phải tiến hành họp đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Quá thời hạn này, Hội đồng tự giải tán. Sau thời gian này, nghiên cứu sinh có quyền tiếp tục đề nghị được bảo vệ luận án nếu đáp ứng các điều kiện quy định theo Quy chế. Giám đốc Học viện quyết định việc đưa luận án ra bảo vệ. Trình tự, thủ tục bảo vệ luận án thực hiện như đối với nghiên cứu sinh bảo vệ luận án lần đầu.
Điều 38. Tổ chức bảo vệ luận án
1. Luận án phải được tổ chức bảo vệ công khai.
2. Những đề tài liên quan tới bí mật quốc gia, thuộc danh mục bí mật nhà nước của Bộ, Ngành nào thì Bộ, Ngành đó phải có ý kiến bằng văn bản gửi Học viện đồng ý cho nghiên cứu sinh nghiên cứu.
a) Nghiên cứu sinh, người hướng dẫn nghiên cứu sinh, viện chuyên ngành, Vụ Quản lý đào tạo báo cáo Giám đốc Học viện xác định tính chất mật của luận án ngay từ khi bắt đầu triển khai đề tài để sau này có cơ sở xem xét cho luận án bảo vệ theo chế độ mật; quản lý hồ sơ, tài liệu liên quan đến nghiên cứu và thực hiện luận án theo chế độ mật trong suốt quá trình đào tạo. Việc xem xét cho một luận án bảo vệ theo chế độ mật phải được tiến hành trước khi đánh giá luận án ở cấp cơ sở. Trước khi tổ chức cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật phải có ý kiến đồng ý cho bảo vệ luận án bằng văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
b) Danh sách Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở hoặc cấp Học viện, danh sách các cán bộ tham dự ngoài Hội đồng, danh sách những đơn vị và cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án phải được Bộ, Ngành quản lý bí mật đó đồng ý bằng văn bản để Giám đốc Học viện quyết định;
c) Khi tổ chức cho một luận án bảo vệ theo chế độ mật, nghiên cứu sinh, viện chuyên ngành, Học viện không được thông báo công khai về buổi bảo vệ của nghiên cứu sinh trên các phương tiện truyền thông. Thời gian và địa điểm bảo vệ chỉ những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết. Trình tự bảo vệ luận án theo chế độ mật thực hiện như bảo vệ luận án theo chế độ công khai;
d) Số lượng bản thảo luận án và tóm tắt luận án cũng như các văn bản chính thức phải được xác định và đóng dấu mật. Tất cả hồ sơ buổi bảo vệ mật phải được quản lý chặt chẽ theo quy chế bảo mật của Nhà nước;
đ) Ngoài các quy định tại các điểm b, c, d của Khoản 2 Điều này, người bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.
3. Việc bảo vệ luận án phải mang tính chất trao đổi học thuật, phải bảo đảm tính nguyên tắc và nêu cao đạo đức khoa học, qua đó tác giả luận án thể hiện trình độ và sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn của mình trước những thành viên trong Hội đồng và những người quan tâm. Mọi thành viên Hội đồng phải có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về bản luận án trước khi đánh giá.
4. Toàn bộ diễn biến của phiên họp đánh giá luận án phải được ghi thành biên bản chi tiết, đặc biệt phần hỏi và trả lời của nghiên cứu sinh cho từng câu hỏi. Biên bản phải được toàn thể Hội đồng thông qua, có chữ ký của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng.
5. Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín. Các thành viên Hội đồng chỉ được bỏ phiếu tán thành hoặc không tán thành. Phiếu trắng được coi là phiếu không tán thành. Luận án đạt yêu cầu khi có 6/7 hoặc 5/6 thành viên Hội đồng có mặt bỏ phiếu tán thành.
6. Hồ sơ chuẩn bị cho buổi bảo vệ:
Để tiến hành bảo vệ luận án cấp Học viện, Vụ Quản lý đào tạo chuẩn bị cho Thư ký hội đồng đầy đủ các văn bản sau đây:
a) Các loại hồ sơ của nghiên cứu sinh như quy định tại Khoản 2 (từ Điểm c đến Điểm m) Điều 34 của Quy chế này, mỗi loại một bản, trong đó luận án và tóm tắt là bản chính thức đã điền đầy đủ thông tin tên nghiên cứu sinh, người hướng dẫn, tên các phản biện và ngày bảo vệ trên bìa 2 tóm tắt luận án;
b) Bản tổng hợp các nhận xét luận án của các thành viên (không là phản biện) của Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện và các nhận xét tóm tắt luận án của các cơ quan và các nhà khoa học gửi đến Hội đồng;
c) Mẫu biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá;
d) Thư ký Hội đồng chuẩn bị dự thảo quyết nghị của Hội đồng.
7. Trình tự buổi bảo vệ luận án cấp Học viện.
a) Buổi bảo vệ luận án cấp Học viện được tiến hành theo trình tự sau đây:
- Đại diện Vụ Quản lý đào tạo tuyên bố lý do, đọc quyết định của Giám đốc Học viện về thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện và đề nghị Chủ tịch Hội đồng điều kiển phiên họp.
- Chủ tịch hội đồng công bố danh sách thành viên có mặt, các điều kiện chuẩn bị cho buổi bảo vệ và công bố chương trình làm việc.
- Thư ký hội đồng đọc lý lịch khoa học của nghiên cứu sinh và các điều kiện cần thiết để nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án theo quy chế.
- Các thành viên hội đồng và những người tham dự nêu câu hỏi hoặc ý kiến thắc mắc (nếu có) về lý lịch khoa học và quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh.
- Nghiên cứu sinh trình bày nội dung luận án trong thời gian không quá 30 phút. Không được đọc bản tóm tắt luận án hoặc văn bản chuẩn bị trước.
- Các phản biện đọc nhận xét.
- Thư ký hội đồng đọc bản tổng hợp các nhận xét khác.
- Hội đồng và những người tham dự nêu câu hỏi để kiểm tra kiến thức và trình độ nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh.
- Tác giả luận án trả lời các câu hỏi nêu ra.
- Đại diện tập thể hướng dẫn phát biểu ý kiến bằng văn bản.
- Hội đồng họp riêng để bầu ban kiểm phiếu bỏ phiếu kín và thảo luận thông qua quyết nghị của Hội đồng.
- Trưởng ban kiểm phiếu công bố kết quả đánh giá luận án.
- Chủ tịch Hội đồng đọc quyết nghị của Hội đồng.
- Các đại biểu và nghiên cứu sinh phát biểu ý kiến.
- Chủ tịch Hội đồng tuyên bố kết thúc buổi bảo vệ.
b) Ban kiểm phiếu gồm ba người (một trưởng ban và hai uỷ viên). Chủ tịch Hội đồng không tham gia ban kiểm phiếu.
8. Hội đồng phải có quyết nghị về luận án, trong đó nêu rõ:
- Kết quả bỏ phiếu đánh giá luận án của Hội đồng.
- Những kết luận khoa học cơ bản, những điểm mới, đóng góp mới của luận án.
- Cơ sở khoa học, độ tin cậy của những luận điểm và những kết luận nêu trong luận án.
- Ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và những đề nghị sử dụng các kết quả nghiên cứu của luận án.
- Những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án.
- Mức độ đáp ứng các yêu cầu của luận án.
- Những điểm cần bổ sung, sửa chữa (nếu có) trước khi nộp luận án cho Trung tâm thông tin khoa học của Học viện và Thư viện Quốc gia Việt Nam.
- Kiến nghị của Hội đồng về việc công nhận trình độ và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.
9. Quyết nghị của Hội đồng phải được các thành viên Hội đồng nhất trí thông qua bằng biểu quyết công khai.
10. Sau khi nghiên cứu sinh hoàn thành việc bổ sung, sửa chữa luận án theo quyết nghị của Hội đồng (nếu có) và có văn bản báo cáo chi tiết về các điểm đã bổ sung, sửa chữa, Chủ tịch Hội đồng có trách nhiệm xem lại luận án và ký xác nhận văn bản báo cáo của nghiên cứu sinh để lưu tại Học viện và nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Điều 39. Bảo vệ lại luận án
1. Nếu luận án không được Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện thông qua thì nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án và đề nghị bảo vệ lần thứ hai muộn nhất trước 24 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất.
2. Thành phần Hội đồng đánh giá lại luận án là Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất. Nếu có thành viên vắng mặt, Giám đốc Học viện bổ sung thành viên khác thay thế.
3. Không tổ chức bảo vệ luận án lần thứ ba.
4. Quá thời hạn 24 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất, luận án không được đưa ra bảo vệ lại
Chương 5
THẨM ĐỊNH LUẬN ÁN VÀ CẤP BẰNG TIẾN SĨ
Điều 40. Thẩm định luận án
1. Hai tháng một lần, Vụ Quản lý đào tạo chuẩn bị báo cáo trình Giám đốc Học viện phê duyệt để gửi đến Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh tại Học viện. Báo cáo gồm:
- Công văn của Học viện, trong đó có danh sách trích ngang các nghiên cứu sinh bảo vệ trong hai tháng.
- Bản sao quyết định của Giám đốc Học viện về việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án.
- Bản sao biên bản và quyết nghị của từng Hội đồng đánh giá luận án.
- Trang thông tin những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của các luận án.
2. Sau ngày bảo vệ ít nhất là 3 tháng, nếu nghiên cứu sinh không bị khiếu nại tố cáo, không có tên trong danh sách cần thẩm định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Học viện xem xét cấp bằng cho nghiên cứu sinh theo quy trình và thủ tục quy định của Quy chế này.
3. Đối với những trường hợp cần thẩm định, việc xem xét cấp bằng tiến sĩ chỉ tiến hành sau khi có kết luận của Giám đốc Học viện căn cứ ý kiến của Hội đồng thẩm định theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 41 của Quy chế này.
Điều 41. Xử lý kết quả thẩm định
1. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định và không có yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa của Hội đồng thẩm định, Giám đốc Học viện thực hiện việc cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh theo Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến yêu cầu phải sửa chữa của Hội đồng thẩm định (do Bộ Giáo dục và Đào đạo chuyển đến), Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện cùng với người hướng dẫn và nghiên cứu sinh xem xét và quyết định các điểm cần bổ sung chỉnh sửa. Sau khi nghiên cứu sinh hoàn thành việc sửa chữa, Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện kiểm tra luận án và xác nhận chi tiết những nội dung đã bổ sung chỉnh sửa, báo cáo Giám đốc Học viện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh theo các quy định của Quy chế này.
3. Đối với luận án không đạt yêu cầu thẩm định, căn cứ vào văn bản yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Học viện tổ chức họp lại Hội đồng đánh giá luận án để xem xét, quyết định việc xử lý đối với luận án của nghiên cứu sinh theo một trong các hình thức: yêu cầu nghiên cứu sinh bổ sung, sửa chữa luận án mà không cần bảo vệ lại; yêu cầu nghiên cứu sinh bổ sung, sửa chữa và bảo vệ lại; yêu cầu nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu bổ sung và bảo vệ lại.
4. Thời gian cho phép nghiên cứu sinh hoàn thành việc bổ sung, chỉnh lý luận án nhiều nhất là 12 tháng kể từ ngày Hội đồng đánh giá luận án cấp nhà nước họp và quyết định. Việc tổ chức cho nghiên cứu sinh bảo vệ lại thực hiện theo Điều 38 của Quy chế này. Sau khi nghiên cứu sinh hoàn thành yêu cầu theo quyết định xử lý, Vụ Quản lý đào tạo chuẩn bị văn bản trình Giám đốc Học viện phê duyệt báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về kết quả thực hiện của nghiên cứu sinh. Những nghiên cứu sinh phải bảo vệ lại, quy trình tiếp theo thực hiện như nghiên cứu sinh bảo vệ lần đầu.
Điều 42. Hồ sơ cấp bằng tiến sĩ
1. Khi đến thời hạn xét cấp bằng tiến sĩ, nghiên cứu sinh thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 41 của Quy chế này, phải nộp cho Trung tâm Thông tin khoa học của Học viện và Thư viện Quốc gia Việt Nam mỗi nơi một bản luận án và một bản tóm tắt luận án (bao gồm bản in trên giấy và bản ghi trên đĩa CD) kể cả các luận án bảo vệ mật.
2. Bản luận án nộp cho Trung tâm Thông tin khoa học của Học viện và Thư viện Quốc gia Việt Nam gồm hai phần. Phần một là toàn văn bản luận án đã được bổ sung, sửa chữa theo yêu cầu của Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện (nếu có). Phần hai là các tài liệu của phiên họp bảo vệ, đánh giá luận án cấp Học viện, đóng quyển cùng với luận án. Phần hai bao gồm:
- Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện và danh sách thành viên Hội đồng.
- Các bản nhận xét của tất cả các thành viên Hội đồng.
- Biên bản và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện.
- Văn bản báo cáo chi tiết về các điểm đã bổ sung, sửa chữa trong luận án (nếu có) theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, có xác nhận của Chủ tịch Hội đồng.
3. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh phải được Vụ Quản lý đào tạo chuyển đến bộ phận lưu trữ ở Văn phòng Học viện và được lưu trữ lâu dài. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau:
- Biên bản chi tiết diễn biến của buổi bảo vệ luận án, câu hỏi của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và những người tham dự, trả lời của nghiên cứu sinh cho từng câu hỏi;
- Quyết nghị của Hội đồng.
- Các bản nhận xét của tất cả các thành viên của Hội đồng, của các cơ quan và các nhà khoa học gửi tới Hội đồng.
- Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá.
- Bản nhận xét, đánh giá của tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh.
- Danh sách Hội đồng có chữ ký của các thành viên tham dự buổi bảo vệ.
- Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin khoa học của Học viện.
- Tờ báo đăng tin hay bản sao chụp bản tin đăng báo ngày bảo vệ (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật).
- Bản in trang thông tin những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án trên trang website của Học viện.
- Các tài liệu khác theo quy định của Học viện.
Điều 43. Cấp bằng tiến sĩ
1. Hồ sơ bảo vệ luận án được đưa ra xem xét tiến hành các thủ tục cấp bằng tiến sĩ bao gồm hồ sơ của các luận án không phải thẩm định và hồ sơ của các luận án đã đạt yêu cầu thẩm định theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 41 của Quy chế này.
2. Giám đốc Học viện có trách nhiệm tổ chức thẩm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án trước khi tổ chức cuộc họp thường kỳ Hội đồng khoa học của Học viện để thông qua danh sách nghiên cứu sinh được cấp bằng tiến sĩ và ra quyết định cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.
Chương 6
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, THANH TRA, KIỂM TRA
VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 44. Khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những người bảo vệ luận án cũng như những cá nhân khác có thể khiếu nại, tố cáo về những vi phạm trong quá trình tuyển sinh, đào tạo, thực hiện luận án, tổ chức bảo vệ và đánh giá luận án trong thời gian 2 tháng kể từ ngày bảo vệ. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.
Nếu nghiên cứu sinh bị phát hiện đã có những sai phạm, gian lận trong hồ sơ dự tuyển, trong quá trình dự tuyển, dự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và nghiên cứu, trong quá trình thực hiện và bảo vệ luận án thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, tạm ngừng học tập, đình chỉ học tập, đến thu hồi văn bằng đã được cấp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chương 7
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 45. Tổ chức thực hiện
1. Học viện thực hiện tuyển sinh từ kỳ tháng 8-2010 theo Quy chế này.
2. Chậm nhất đến ngày 30-8-2010 các viện chuyên ngành phải hoàn thành việc xây dựng chương trình đào tạo trình Giám đốc Học viện phê duyệt và bắt đầu tổ chức đào tạo nghiên cứu sinh theo chương trình đã được xây dựng theo quy định tại Quy chế này.
3. Đối với nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp cơ sở trước ngày 21-12-2011 thực hiện theo chương trình đào tạo quy định tại điều 14 Quy chế đào tạo sau đại học ban hành theo Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&DDT ngày 08-6-2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ tháng 01-2012, trước khi bảo vệ luận án cấp cơ sở, nghiên cứu sinh phải đáp ứng điều kiện về chương trình đào tạo và trình độ ngoại ngữ quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 23 của Quy chế này.
4. Vụ Quản lý đào tạo chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan chuẩn bị các điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Quy chế này.
Trong quá trình thực hiện nếu có thay đổi do Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc thực tế phát sinh, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh quyết định điều chỉnh từng nội dung cụ thể.
GIÁM ĐỐC
(đã ký)
Lê Hữu Nghĩa
Nguồn: Vụ Quản lý đào tạo