"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh)

 Chi tiết bài viết
Nghiên cứu sinh Nguyễn Công Trí: Tóm tắt bằng Tiếng Việt, Tiếng Anh những kết luận mới của luận án


THÔNG TIN ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

 

 

       Tên đề tài: Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học                          Mã số: 62 22 85 01

Nghiên cứu sinh: Nguyễn Công Trí

Người hướng dẫn  khoa học: PGS, TS Phan Thanh Khôi

Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

1. Đặc điểm của trí thức Việt Nam: 1/ Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội và được đào tạo từ nhiều nguồn trong và ngoài nước; 2/ Trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; 3/ Trí thức Việt Nam đang biến đổi nhanh chóng về số lượng, chất lượng và cơ cấu; 4/ Trí thức Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của xu thế giao lưu, hợp tác trong nước và quốc tế. Đặc điểm của quá trình hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam: 1/ Kinh tế tri thức  ở Việt Nam hình thành gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; 2/ Kinh tế tri thức  ở Việt Nam hình thành trên cơ sở kế thừa thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới; 3/ Kinh tế tri thức  ở Việt Nam hình thành và vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa; 4/ Kinh tế tri thức  ở Việt Nam mới hình thành và định hình rõ nét trên một số lĩnh vực chủ yếu.

2. Ở Việt Nam, trí thức có mối quan hệ biện chứng với phát triển kinh tế tri thức. Trong mối quan hệ đó, trí thức Việt Nam thể hiện vai trò của mình thông qua các nhiệm vụ chủ yếu như: góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối phát triển kinh tế tri thức;  lực lượng chủ yếu trong sáng tạo, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức; lực lượng quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức; trực tiếp góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức; góp phần giữ vững định hướng phát triển kinh tế tri thức. Đồng thời, phát triển kinh tế tri thức tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với trí thức Việt Nam, là môi trường để trí thức trưởng thành và phát triển.

3. Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của trí thức trong phát triển kinh tế tri thức  ở Việt Nam hiện nay: 1/ Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về tính tất yếu của phát triển kinh tế tri thức và vai trò của trí thức Việt Nam; 2/ Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng trí thức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của kinh tế tri thức; 3/ Nhóm giải pháp về sử dụng trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức; 4/ Nhóm giải pháp về đãi ngộ đối với trí thức Việt Nam để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức; 5/ Nhóm giải pháp về tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhằm phát huy tính sáng tạo của trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức; 6/ Nhóm giải pháp về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với trí thức và củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức; 7/ Nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế tri thức, tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức Việt Nam.

 

 

INFORMATION ON DOCTORAL THESIS 

Theme: The Role of Vietnamese Intellectuals in Economic Development

Specialism:  Scientific Socialism     Code: 62 22 85 01

PhD. Candidate:  Nguyen Cong Tri

Academic Supervisors:         Assoc. Prof. Dr Phan Thanh Khoi

Training Institution: The Ho Chi Minh National Academy of Politics and Public Administration  

SUMMARY OF NEW CONCLUSIONS OF THE THESIS

  1. The characteristics of Vietnamese Intellectuals: 1/  Vietnamese Intellectuals come from a variety of social class backgrounds and are trained by many domestic and foreign training resources; 2/  Vietnamese Intellectuals have the spirit of patriotism and profound national pride and self- respect, have a strong attachment to the cause of revolution led by the Communist Party of Vietnam; 3/ Vietnamese Intellectuals have been changing rapidly in terms of quantity, quality and structure; 4 / Vietnamese Intellectuals have developed under the strong impact of domestic and international exchange, integration and cooperation. The characteristics of formation process of knowledge- based economy in Vietnam: 1/ The formation of knowledge- based economy in Vietnam is associated with the process of industrialization and modernization; 2/ Knowledge- based economy in Vietnam is created on the basis of inheriting world scientific and technological achievements ; 3/ Knowledge- based economy in Vietnam is built and develops with socialist orientation; 4/ Knowledge- based economy in Vietnam just has been built and has taken shape clearly in some certain key areas.
  2. In Vietnam, intellectuals have dialectical relationship with the development of knowledge- based economy. Vietnamese Intellectuals play their role in that relationship through making major contributions such as: helping to build scientific grounds for the guidelines on knowledge- based economy development; being the main force for creating, acquiring and applying advanced sciences and technologies to production, meeting the requirements of knowledge-based economy development; being the important force for building and developing the culture that meets these requirements; directly contributing to human resource training process to develop knowledge-based economy; and helping to maintain the orientation of knowledge-based economy development. On the other hand, the development of knowledge-based economy provides Vietnamese Intellectuals with many opportunities and challenges, which would be an environment in which the intellectuals  mature and develop.
  3. The main groups of solutions for promoting the role of intellectuals in developing knowledge- based economy in Vietnam today: 1/ Raising awareness on the inevitability of knowledge-based economy development and the role of Vietnamese Intellectuals; 2/ Training and fostering intellectuals to meet the increasing requirements of knowledge-based economy; 3/ Employing intellectuals to meet the requirements of knowledge-based economy; 4/ Treating Vietnamese Intellectuals to encourage them to meet the requirements of knowledge-based economy; 5/ Creating an convenient environment and conditions to inspire Vietnamese Intellectuals’ creativity and innovation in the process of  knowledge-based economy development; 6/ Innovating the Party’s leadership and the State’s management of intellectuals, strengthening and improving the operating quality of intellectual associations and communities to meet the requirements of knowledge-based economy; 7/ Improving the guidelines and policies on developing knowledge-based economy to promote the role of Vietnamese Intellectuals

Nguồn: Vụ Quản lý đào tạo


Ngày đăng:  13/07/2012
Số lần xem:  4525

Các tin đã đưa
  • Nghiên cứu sinh Lê Minh Thắng: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  • Kết quả bình xét các danh hiệu thi đua tại Trung tâm Học viện năm học 2011 - 2012
  • Nghiên cứu sinh Trần Hải Minh: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  • Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Thu: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  • Nghiên cứu sinh Phạm Thị Bình: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  • Công đoàn Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ phát thưởng khuyến học năm học 2011-2012
  • Nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Hưởng: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  • Nghiên cứu sinh Mai Hoài Anh: Tóm tắt bằng tiếng Việt, tiếng Anh những kết luận mới của luận án
  •  Quay lại

    Giới thiệu chung      Chức năng, nhiệm vụ      Cơ cấu tổ chức      Các đơn vị trực thuộc      Các Hv trực thuộc